May 9, 2013

Điều trị ung thư gan bằng thuốc đông y

Lang thang trên Internet, mình đã lượm được thông tin từ bạn Vương Quang - Kiên Giang có người nhà bị ung thư gan hỏi về cach dieu tri ung thu gan bằng thuốc đông y như sau:

"Em có người nhà bị ung thư gan. Một người bạn có mách bài thuốc điều trị, giúp kéo dài cuộc sống người bệnh gồm: Long đất (trùng hổ) 50g, đậu xanh (sao thủy thổ) 100g, đậu đỏ (sao thủy thổ) 100g, bồ ngót (sao thủy thổ) 50g. Nấu 3 chén còn lại 1/2 chén. Xin bác sĩ cho biết bài thuốc trên có hiệu quả không?"

Trả lời: Ðây là bài thuốc của ông Nguyễn An Ðịnh đã đưa ra tại Viện Ðông y Hà Nội (năm 1969) trong vụ dịch sốt xuất huyết lần đầu tiên tại miền Bắc.

Từ đó đến nay, bài thuốc này đã lan truyền rộng rãi trong nhân dân và nhiều người coi đây là một "thần dược".

Trùng hổ là vị thuốc chính trong bài thuốc này, trước kia rất hiếm nơi bán vì ít người dùng. Khi bài thuốc được công bố, người ta đã nuôi trùng hổ để bán, vì vậy có thể dễ dàng tìm mua ở bất cứ tiệm thuốc Ðông dược nào với số lượng lớn.

Khoảng 10 năm trước đây, nhiều người cho đây là bài thuốc chữa được các bệnh như viêm gan, bệnh xơ gan, ung thư, sốt xuất huyết v.v... Tuy nhiên trên thực tế, chúng tôi thấy bài thuốc trên rất ít được nhắc tới trong điều trị ung thư gan, mặc dù số lượng bệnh nhân ung thư cả 2 miền Nam Bắc nước ta rất nhiều.

Phân tích bài thuốc: Trùng hổ còn gọi là Ðịa long, Khâu dẫn, đã được ghi trong Thần nông bản thảo kinh vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước công nguyên. Tại Việt Nam, trùng hổ được ghi trong Nam dược thần hiệu của Hoàng giáp Nguyễn Bá Tĩnh thế kỷ thứ 14.

Theo Ðông y, trùng hổ có tác dụng thanh nhiệt tức phong, thông lạc, bình suyễn, lợi niệu.

Theo nghiên cứu dược lý của khoa học hiện đại: Trùng hổ có tác dụng hạ huyết áp, làm giãn các cơ trơn, hạ sốt, an thần, chống co giật.

Do đó hiện nay trùng hổ được dùng trị sốt cao, co giật, viêm phế quản mãn, hen phế quản, đau khớp, cao huyết áp, viêm bàng quang. Còn đậu đỏ, đậu xanh, bồ ngót là những thực phẩm dùng hàng ngày có giá trị dinh dưỡng cao.

Tổng hợp các vị trong cả bài thuốc thì không thấy vị nào có tác dụng chữa ung thư. Qua thực tế quan sát một số bệnh nhân bị ung thư gan, ung thư xương đã dùng bài thuốc trên, chúng tôi thấy không có kết quả.

Như vậy bài thuốc chỉ có tác dụng tốt cho những trường hợp cao huyết áp, sốt cao co giật, viêm phế quản, hen phế quản, viêm gan mãn thể ổn định.

Con đường lây nhiễm viêm gan b

Viêm gan B là bệnh truyền nhiễm do virus lây lan qua đường máu.

Virus viêm gan B không lan truyền qua tiếp xúc thông thường (qua không khí, ôm, chạm vào, hắt hơi, ghế ngồi, ho, nhà vệ sinh, hoặc tay nắm cửa). Dưới đây là những cách phổ biến nhất của viêm gan B lây sang người khác:

  - Tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc chất dịch cơ thể người bị nhiễm bệnh
  - Quan hệ tình dục không được bảo vệ với một đối tác bị nhiễm bệnh
  - Chia sẻ hoặc tái sử dụng kim tiêm với người bị nhiễm (ví dụ, dùng chung bơm kim tiêm hoặc tái sử dụng kim tiêm không đúng cách khử trùng để châm cứu, xăm, xỏ lỗ tai / cơ thể)
  - Từ mẹ bị nhiễm cho em bé khi sinh (đây là con đường phổ biến nhất của nhiễm trùng ở những người Việt Nam).

Đối tượng bị lây nhiễm virus viêm gan B

Mặc dù viêm gan B có thể lây nhiễm bất kỳ đối tượng nào, ở bất kỳ tuổi tác nào, nhưng có một số người có nguy cơ cao bị lây nhiễm. Dưới đây là một số nhóm có nguy cơ cao bị nhiễm viêm gan B, nhưng hãy nhớ rằng đây không phải là một danh sách đầy đủ:
- Người gốc Á Châu
- Trẻ do người mẹ bị nhiễm viêm gan B sinh ra
- Những người trong gia đình có người bị bệnh viêm gan B (kể cả trẻ sơ sinh, trẻ em và người lớn). Hầu hết người Việt Nam có bệnh viêm gan B mãn tính không biết họ bị nhiễm và có thể vô tình lây siêu vi khuẩn với những người khác. Kết quả là, viêm gan B có thể ảnh hưởng đến toàn bộ một gia đình nhiều thế hệ.
- Những người có quan hệ tình dục không được bảo vệ hoặc có nhiều đối tác tình dục.
- Nhân viên y tế, những người chăm sóc sức khỏe và những người tiếp xúc với máu hoặc các chất dịch cơ thể của người bị nhiễm.
- Người sử dụng ma túy.
- Những người trải qua thẩm tách thận hoặc có chảy máu.

Viêm gan B là bệnh nguy hiểm
Viêm gan B nguy hiểm vì nó là một “căn bệnh thầm lặng” có thể lây nhiễm sang người mà họ không biết. Hầu hết những người bị nhiễm viêm gan B không biết mình bị nhiễm và có thể vô tình truyền virus cho người khác thông qua máu của họ.

Đối với những người bị bệnh mạn tính, có nghĩa là virus có thể ở lại trong gan của họ trong hơn 6 tháng, có tăng nguy cơ phát triển bệnh gan nghiêm trọng sau này trong đời. Virus có thể nhẹ nhàng và liên tục tấn công gan trong nhiều năm mà không bị phát hiện.

Ung thư gan có thể gây tử vong kể từ khi các triệu chứng viêm gan b mạn tính chưa xuất hiện cho đến khi quá muộn. 80% bệnh ung thư gan trên thế giới là do viêm gan B mạn tính. Điều tối quan trọng là tất cả mọi người phải xét nghiệm viêm gan B. Ngay cả khi không có bất kỳ triệu chứng nghiêm trọng cho đến khi quá muộn cho phương pháp điều trị để được giúp đỡ.

Xem thêm: điều trị ung thư gan | điều trị viêm gan | cach dieu tri ung thu gan

Thuốc điều trị viêm gan b

Nhiều bệnh nhân viêm gan b thắc mắc: hiện nay đã có thuốc điều trị viêm gan b hay chưa? bệnh viêm gan b ngủy hiểm thế nào?

Viêm gan siêu vi B là bệnh gan hiểm nghèo thường gặp nhất trên thế giới do siêu vi khuẩn B gây ra. Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ bị nhiễm siêu vi B cao nhất thế giới. Ở nước ta có khoảng 10 triệu người đang bị nhiễm căn bệnh này.

Tại sao viêm gan B được coi là căn bệnh nguy hiểm?

Đây là căn bệnh lây lan lặng lẽ, tiến triển âm thầm. Đa số người bị nhiễm siêu vi B đều không biết là mình bị nhiễm và có thể vô tình lây sang người khác qua đường máu. Đa số người lớn bị nhiễm đều có thể loại trừ siêu vi B dễ dàng. Tuy nhiên đa số trẻ sơ sinh và trẻ em bị nhiễm đều không thể loại trừ được siêu vi khuẩn này và sẽ trở thành người mang siêu vi B mạn tính.

Cứ 4 người mang siêu vi B mạn tính sẽ có 1 người bị thiệt mạng do bệnh xơ ganung thư gan trong suốt cuộc đời của họ. Siêu vi B có thể thầm lặng tấn công gan trong nhiều năm mà bệnh nhân không hề hay biết. Đến khi bệnh nhân cảm thấy cần đi khám bệnh thì thường bệnh đã vào giai đoạn cuối. Nhiều bệnh nhân đã chết do ung thư gan vẫn không biết thủ phạm chính là siêu vi khuẩn B.

Bệnh viêm gan siêu vi B có thể phát hiện sớm một cách dễ dàng nhờ vào các xét nghiệm máu đơn giản. Việc phát hiện sớm viêm gan B mạn tính giúp gia tăng hy vọng ngăn ngừa biến chứng xơ gan và ung thư gan bằng cách khám sức khỏe định kỳ và điều trị với những loại thuốc đặc trị mới.

Có thuốc chủng ngừa viêm gan B không?

Tây y: Hiện nay có thuốc chủng ngừa viêm gan B hiệu quả. Đây chính là thuốc chủng chống ung thư đầu tiên vì thuốc có thể bảo vệ tránh được siêu vi B vốn là tác nhân gây ra 80% các trường hợp ung thư gan trên thế giới. Với liều tiêm chủng 3 mũi, thuốc có thể đem lại hiệu quả bảo vệ gần như suốt đời cho người được tiêm chủng.

Đông y: Các trường hợp cấp tính có thể chữa khỏi hắn – Với các trường hợp mãn tính ko thể chữa khỏi mà có thể dùng thuốc để hạn chế sự phát triển của virut viêm gan B hoặc làm nó yếu đi và rơi vào trạng thái ngủ.

Kết hợp chế độ ăn uống , nghỉ ngơi , thể dục hợp lý để tăng sức đề kháng làm cho virut luôn trong trạng thái suy yếu, ngừng phát triển. Người bệnh ko còn biểu hiện mình bị viêm gan B nữa.

May 8, 2013

Lạm dụng rượu bia coi chừng mắc bệnh xơ gan

Bệnh xơ gan là khi cấu trúc bình thường của gan biến đổi và thay thế bằng mô xơ teo không còn chức năng. Đặc biệt là bệnh không thể hồi phục được, điều trị lại khó khăn.

Các nguyên nhân dẫn đến benh xo gan
  -  Việc tiêm phòng vaccin viêm gan B ở nước ta muộn hơn các nước khác.
  -  Tình trạng lạm dụng rượu, bia đã làm tổn thương tế bào gan gây viêm gan mạn và xơ gan. Theo kết quả điều tra của Viện Chiến lược và Chính sách y tế (Bộ Y tế), Việt Nam đang đứng trong số các nước vô địch về ăn nhậu, với gần 3 tỷ lít bia, rượu/năm.

Điều trị cho bệnh nhân xơ gan
  -  Do nhiễm ký sinh trùng: Sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, sán máng, ký sinh trùng sốt rét, giun đũa. Các loại sán lá gan gây viêm đường mật, gây sỏi mật, ứ mật kéo dài.
  -  Do dùng những loại thuốc và hóa chất gây độc cho gan như thuốc chống lao INH, rifampicin, thuốc chống viêm giảm đau: Phenyl, Butazon, Aspirin, paracetamol; thuốc hạ huyết áp: Methyldopa. Các hóa chất Phospho, Tetraclorua, DDT, Metrotresat…

Tiến triển và biến chứng
Một số biến chứng có thể xảy ra:
  -  Cổ trướng là biến chứng thường gặp của xơ gan. Khoảng 50% người bệnh xơ gan trong vòng 10 năm sẽ xuất hiện cổ trướng. Và 2 năm sau đó có khoảng 50% bệnh nhân tử vong.
  -  Nhiễm trùng dịch cổ trướng: Khoảng 10-30% bệnh nhân xơ gan nhập viện do nhiễm trùng dịch cổ trướng. Bệnh nhân có biểu hiện: Sốt, đau bụng âm ỷ, buồn nôn, đi ngoài phân lỏng. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân có triệu chứng rất mờ nhạt.
  -  Hội chứng gan - thận: Đây là biến chứng rất nặng của xơ gan, là tình trạng suy giảm chức năng thận do hậu quả của rối loạn chức năng tuần hoànhệ thống, dẫn đến giảm dòng máu động mạch tới thận gây suy thận.Yếu tố thúc đẩy dẫn đến hội chứng gan- thận chủ yếu là tình trạng nhiễm trùng, đặc biệt nhiễm trùng dịch cổ trướng.
  -  Dãn tĩnh mạch thực quản, tĩnh mạch phình vị và biến chứng xuất huyết tiêu hóa
  -  Bệnh lý não gan.

Phòng bệnh xơ gan

Xơ gan là bệnh khó điều trị. Hiện trên thế giới đang áp dụng phương pháp ghép gan, nhưng rất tốn kém, yêu cầu kỹ thuật hiện đại. Ở nước ta, kỹ thuật ghép gan mới chỉ là những bước ban đầu, do đó tốt nhất là biện pháp phòng bệnh. Phát hiện sớm xơ gan, chính là phát hiện sớm viêm gan các loại, không nên để đến lúc bụng to ra, hoặc lách to ra rồi mới đi khám bệnh, lúc đó đã quá muộn.

Thực tế cho thấy, 50% người viêm gan 1-5 năm đầu không có triệu chứng gì. Muốn phát hiện viêm gan, tốt nhất là phải đi khám định kỳ 1-2 năm nhằm thử chức năng gan và phát hiện virus viêm gan B, C... Ngoài ra không nên uống rượu; không ăn gỏi cá, không quan hệ tình dục bừa bãi, không dùng chung bơm và kim tiêm, tiêm phòng vaccin viêm gan đầy đủ cho trẻ sơ sinh và những người chưa mắc bệnh. Khi tiêm chủng đầy đủ và mở rộng sẽ làm giảm tỷ lệ mắc viêm gan B và giảm biến chứng xơ gan.

Đặc biệt điều trị triệt để các bệnh có thể gây xơ gan như suy tim, viêm tắc tĩnh mạch, viêm màng ngoài tim kịp thời bệnh sốt rét (nếu có) theo đúng phác đồ.


Dấu hiệu sớm của bệnh xơ gan

Dấu hiệu của bệnh xơ gan:

Đau ở hạ sườn phải, bụng chướng nhẹ, giãn các vi mạch ở cổ, mặt... có thể là các dấu hiệu đầu tiên của bệnh xơ gan. Các biểu hiện này thường không điển hình, lại mờ nhạt nên rất dễ bị bỏ qua.

Bệnh xơ gan gặp ở cả người lớn và trẻ em. Đây là bệnh tiến triển từ từ, khi có triệu chứng rõ ràng thì bệnh đã rất nặng với nhiều biến chứng nguy hiểm, việc điều trị sẽ gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, cần phải phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời.


Trước khi bị xơ gan, hầu hết bệnh nhân đều mắc các bệnh lý gan mật như viêm gan do virus, nghiện rượu. Xơ gan tiến triển thành 2 giai đoạn chính:



Giai đoạn sớm của benh xo gan (tiềm ẩn):

Các triệu chứng của bệnh rất nghèo nàn. Người bệnh chỉ thấy hơi đau ở hạ sườn phải, bụng trướng nhẹ, xuất hiện sự giãn các vi mạch ở cổ, mặt... Nhiều trường hợp không có các triệu chứng lâm sàng, người bệnh vẫn lao động, học tập bình thường. Giai đoạn này có thể chỉ vài tuần, có khi kéo dài vài tháng, thậm chí vài năm. Vì không có biểu hiện rõ rệt nên người bệnh chủ quan, không đi khám, không có chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý. Nhiều người vẫn dùng rượu bia, thuốc lá, sử dụng những chất không có lợi cho gan... làm cho bệnh càng có cơ hội bùng phát mạnh ở giai đoạn tiếp theo.


Giai đoạn muộn của bệnh xơ gan(mất bù):

Có nhiều triệu chứng rõ rệt nên bệnh nhân mới đi khám. Biểu hiện rõ rệt nhất là suy gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Tình trạng xơ hóa làm chức năng gan suy giảm, dẫn đến mệt mỏi, chán ăn, gầy sút, rối loạn tiêu hóa, ăn không tiêu, sợ mỡ, rối loạn đại tiện. Bên cạnh đó, bệnh nhân dễ bị chảy máu dưới da và niêm mạc, như chảy máu cam, chảy máu chân răng. Một số trường hợp da sạm đen do lắng đọng sắc tố hoặc vàng mắt, vàng da kèm theo ngứa, nhất là trường hợp xơ gan do ứ mật.

Phù là một triệu chứng nổi bật của bệnh nhân xơ gan. Lúc đầu là phù hai chi dưới, về sau gan suy nhiều có thể bị phù toàn thân. Ngoài ra, xơ gan cũng ảnh hưởng đến chức năng nội tiết của cơ thể. Nam giới có biểu hiện giảm ham muốn tình dục, teo tinh hoàn, vú to ra. Nữ giới rối loạn kinh nguyệt hoặc mất kinh.


Tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa thường biểu hiện bằng hiện tượng tuần hoàn bàng hệ. Lúc đầu, các tĩnh mạch nổi lờ mờ ở vùng mũi ức và hạ sườn phải, sau đó phát triển rõ dần, có khi nhìn thấy từng búi tĩnh mạch nổi lên. Lúc này, bệnh nhân có thể bị trĩ nội, trĩ ngoại, xuất huyết tiêu hóa do vỡ các tĩnh mạch ở thực quản và dạ dày. Tăng áp lực tĩnh mạch cửa làm cho bệnh nhân bị cổ trướng, bụng trương phình. Chọc hút dịch cổ trướng thường có màu vàng, nếu có màu hồng thì có thể xơ gan đã bị ung thư hóa.


Khi đã có những biểu hiện của giai đoạn muộn thì gan không còn cơ hội phục hồi nữa. Lúc này, bệnh rất ít đáp ứng điều trị, có đến 60% tử vong trong năm đầu tiên, trên 80% tử vong trong vòng 2 năm và chỉ 6% sống quá 3 năm. Bệnh nhân tử vong vì những biến chứng như: nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa và hôn mê gan.


Xem thêm: điều trị ung thư gan | dieu tri viem gan | triệu chứng ung thư gan | thuốc đông y chữa xơ gan cổ chướng