Showing posts with label tin-tuc. Show all posts
Showing posts with label tin-tuc. Show all posts

January 3, 2014

Các bà mẹ nên chọn sữa nào là tốt?

Với một bà mẹ trẻ mới sinh con lần đầu, nếu phải cho con ăn sữa ngoài, thì câu hỏi đầu tiên đó là sữa nào là tốt. Do quá nhiều loại sữa trên thị trường khiến cho các bà mẹ lúng túng khi chọn sữa cho con. Tất cả các hãng sữa: sữa XO, sữa Celia, sữa Friso, sữa Similac, . . . . Nhưng điều quan tâm của các bà mẹ không phải là sữa này đắt hay rẻ, chất lượng sữa như thế nào và độ an toàn của sữa ra sao, mà họ chỉ căn cứ vào những lời quảng cáo và những lời khuyên của các bà mẹ khác. Chính vì những quan niệm đó, nên nhiều bậc cha mẹ cầu kỳ đã không ngại bỏ tiền ra mua các loại sữa “xách tay” với suy nghĩ cho rằng sữa này mới là tốt. Có bà mẹ lựa chọn sữa cho con khi xem quảng cáo thấy loại sản phẩm sữa có chứa đến 54 thành phần dưỡng chất, hoặc sữa có bổ sung gấp 4 lần DHA hoặc sữa có miễn dịch 3 chiều vv và vv …Vậy sữa nào là tốt.

Theo các nhà Dinh dưỡng, để khẳng định một loại sữa có thực sự tốt cho trẻ hay không, thì chúng ta nên lấy sữa mẹ là căn cứ quy chuẩn, vì trong sữa mẹ có đầy đủ thành phần các chất dinh dưỡng đáp ứng được sự phát triển toàn diện của trẻ. Để hiểu rõ hơn ta tạm phân các thành phần trong sữa mẹ theo tác dụng sinh học thành 2 nhóm chính đó là: các thành phần dinh dưỡng và các thành phần giúp tăng sức đề kháng, trí tuệ… Như vậy nếu cần phải cho con ăn sữa công thức thì bà mẹ khi chọn sữa cho bé nên chú ý đến cả 2 nhóm.

Nhóm thứ nhất: cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng (chất béo, chất đạm, chất bột đường), nước, khoáng chất, yếu tố vi lượng, vitamin … Hầu hết các sữa bột hiện nay đều chế tạo từ sữa bò và đều có nhóm dưỡng chất này, nhưng để phù hợp với khả năng tiêu hoá của bé, nên chọn sữa có thành phần dinh dưỡng được điều chỉnh càng gần với tiêu chuẩn sữa mẹ càng tốt (chất đạm 1,1g -1,5g/100ml, tỷ lệ đạm whey: casein là 60:40 (đạm sữa được thuỷ phân thành những chuỗi ngắn); chất béo 3-4g/100ml, các Acid béo chuỗi dài không no chiếm khoảng 14%; nhiều gốc đường cao phân tử (0,5g/100ml), đặc biệt chú ý đến FOS và GOS là loại Oligosaccharide chỉ có trong sữa mẹ. Các thành phần dinh dưỡng cơ bản này nếu cao hơn chuẩn thì trẻ sẽ khó hấp thụ, nếu thấp hơn chuẩn thì không đảm bảo nhu cầu cho trẻ.

Nhóm thứ hai: đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa đối với sự phát triển trí não, hệ miễn dịch, hệ tiêu hoá, cơ xương của trẻ. Trong đó cần chú ý là các chất béo chuỗi dài không no như DHA, ARA, omega 3, omega 6, taurin, cholin, nucleotides… Trong sữa mẹ, ngoài các thành phần trên còn có những vitamin như vitamin A, D, C và các chất khoáng như chất sắt cũng rất quan trọng giúp trẻ tăng cường khả năng miễn dịch. Ngoài ra sữa mẹ còn có các yếu tố hỗ trợ chức năng não như: sphigomyelin ( SM), Phosphatidylserin… Các yếu tố tăng cường miễn dịch, chống nhiễm khuẩn, bảo vệ đường tiêu hoá như lacferrin, bifidus… và các yếu tố tăng cường chuyển hoá acid béo chuỗi dài như L-carnitin, yếu tố tăng cường hấp thụ chuyển hoá canxi, giúp xương chắc khoẻ như: caseinphosphopeptid (CPP), apha lactalbumin…

Khi mua sữa, các bà mẹ nên chú ý lứa tuổi của bé để chọn sữa cho thích hợp. Trẻ dưới 6 tháng dùng loại sữa công thức 1; từ 6 tháng đến 1 tuổi công thức 2 và các loại sữa cho trẻ trên 1 tuổi. Ngoài ra , các bà mẹ cần tuân thủ cách sử dụng sữa theo hướng dẫn trên bao bì theo tỷ lệ, nếu pha đặc quá làm trẻ khó hấp thu, gây táo bón . Nếu pha loãng sẽ không đủ dinh dưỡng theo nhu cầu của trẻ trong từng thời kỳ , trẻ chậm lên cân, kéo dài có thể đưa đến suy dinh dưỡng.

Một điều rất quan trọng khi bé ăn sữa khác ngoài sữa mẹ, là trẻ hay bị rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy mà ít khi các bậc phụ huynh quan tâm đó là vấn đề vệ sinh ăn uống của trẻ, nhất là vệ sinh các dụng cụ chứa đựng thức ăn như bình sữa, cốc, bát, thìa…Theo thống kê của Khoa tiêu hoá Viện Nhi Trung ương trên 60% trẻ bị tiêu chảy do ăn bằng bình. Vì thế việc vệ sinh bình sữa, núm vú cần tuân thủ các nguyên tắc về vệ sinh (luộc bình, núm vú hàng ngày) để phòng tránh tiêu chảy cho bé.

December 20, 2013

Thủ phạm chính gây nên bệnh ung thư gan là virut viêm gan B

Ung thư gan là 1 trong 8 ung thư hay gặp nhất trên toàn thế giới, bệnh chiếm 4% trong tổng số các ung thư ở người. Tại Việt Nam, ung thư gan là loại ung thư phổ biến đứng hàng thứ 4 ở cả hai giới. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là vi rút viêm gan B.

Nguyên nhân và các yếu tố gây ung thư gan

Thủ phạm chính gây nên benh ung thu gan là virut viêm gan B. Các bằng chứng khoa học đã chứng minh virut viêm gan B là yếu tố gây ung thư gan trên thực nghiệm. Người bị nhiễm virut viêm gan B có nguy cơ cao gấp 200 lần so với người không bị nhiễm loại vi rút này.

Xơ gan do bất cứ nguyên nhân nào cũng là một yếu tố nguy cơ dẫn tới ung thư gan. Uống rượu kéo dài dẫn tới xơ gan là nguyên nhân thường gặp nhất của ung thư gan trên toàn thế giới. Những người bị xơ gan do rượu nếu ngừng uống khoảng 10 năm thì sau đó cũng tiến triển tới ung thư gan. Thực phẩm dự trữ trong môi trường nóng và ẩm dễ sinh ra một loại nấm gọi là Aspergillus flavus, loại nấm này sinh ra Aflatoxin, là chất được biết gây ung thư mạnh trên thực nghiệm. Ung thư tế bào gan cũng xuất hiện ở trên 30% bệnh nhân bị ứ sắt có tính chất di truyền. Tại Việt Nam, hậu quả của chiến tranh để lại với hàng triệu tấn chất độc màu da cam có chứa chất Dioxin cũng là một yếu tố nguy cơ chính gây nên căn bệnh này.

Triệu chứng bệnh gan và chuẩn đoán

Các bệnh nhân ung thư gan ở giai đoạn sớm hầu như không có triệu chứng, khi phát hiện ra thì bệnh đã ở giai đoạn muộn. Đau bụng vùng hạ sườn trái là triệu chứng thường gặp nhất do u lớn. Triệu chứng khởi đầu cũng thường gặp là trên các bệnh nhân xơ gan đột ngột xuất hiện biến chứng (cổ chướng, vàng da, xuất huyết tiêu hoá do gi•n vỡ tĩnh mạch thực quản). Khi khám bệnh, các bác sỹ có thể sờ thấy gan to, ấn rắn chắc.

Các xét nghiệm thường được làm để chẩn đoán ung thư gan là xét nghiệm máu xác định nồng độ anpha-FP, khi AFP cao trên 500ng/ml thì rất gợi ý tới ung thư gan. Ngoài ra, các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, chụp CT scaner ổ bụng có tác dụng xác định vị trí và sự xâm lấn của khối u gan. Xét nghiệm sinh thiết gan bằng kim nhỏ chọc đơn thuần hoặc siêu âm để chẩn đoán mô bệnh học mô bệnh học.

Dự phòng

Đây là căn bệnh rất khó phát hiện ở giai đoạn sớm chính vì vậy việc điều trị cũng ít hiệu quả. Đa số các ung thư gan thường kèm theo nhiễm viêm gan B, để dự phòng căn bệnh này, việc cần làm là thực hiện tiêm vắc-xin chống lại vi rút viêm gan B.

Triệu chứng viêm gan Virut thường không được biểu hiện

Hơn 500 các cán bộ y tế, chuyên gia về gan mật vừa tham dự Hội nghị khoa học Bệnh viêm gan thường niên lần V của Roche Việt Nam. Tại đây, Roche Việt Nam tiếp tục khẳng định cam kết trong việc góp phần kiểm soát bệnh viêm gan tại Việt Nam.

Bác sĩ Nguyễn Hữu Chí, Chủ tịch Hội Gan mật TPHCM, Phó trưởng Bộ môn Nhiễm - Đại học Y Dược TPHCM, cho biết: “Hiện ước tính có tới 15% - 20% dân số nhiễm virus viêm gan B và đa phần người bệnh không nhận ra bất kỳ triệu chứng viêm gan đặc biệt nào cho đến khi gan bị tổn thương nghiêm trọng. Do đó, đa số bệnh nhân thường được chẩn đoán và chữa trị vào giai đoạn muộn, khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn”, và người bệnh có nguy cơ chuyển sang xơ gan cổ chướng hoặc ung thư gan.

Vì vậy, chúng ta nên thường xuyên đi kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng 1 lần, để được phát hiện bệnh kịp thời và có phương pháp điều trị thích hợp. Hiện nay thường dùng giải pháp chẩn đoán kết hợp xét nghiệm HBsAg định lượng và xét nghiệm HBV DNA của Roche Diagnostics xá định chính xác bệnh và nguyên nhân gây bệnh, từ đó giúp các bác sĩ xác định liệu bệnh nhân có đáp ứng tốt với phương pháp điều trị hiện tại hay không, từ đó có sự điều chỉnh thích hợp.

December 19, 2013

Dược chất chữa ung thư cực mạnh từ thiên nhiên

Nhìn nước da nhuận sắc hồng hào và nét mặt vui tươi của bác Dương Minh Thái ở khu Bồ Sơn, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, không ai nghĩ rằng bác từng phải chiến đấu với căn bệnh ung thư gan quái ác suốt 5 năm qua.

(Chuyện về một quân nhân 60 tuổi, sau 20 năm phục vụ trong quân đội, khi về quê nghỉ chế độ bác lại bè bạn với gàu giai, gàu sòng, cuộc sống thật bình yên. Đầu năm 2009 bác sĩ cho hay bị bệnh ung thư gan, nhưng bằng bản lĩnh của anh bộ đội cụ Hồ, bác đã vượt qua bệnh tật, tìm lại được niềm vui và trở thành người “thắp lửa” cho hàng trăm bệnh nhân đồng cảnh ngộ. Bác Thái sẵn lòng chia sẻ thông tin với mọi người tại nhà riêng hoặc theo số điện thoại 0975.974.076.)

Bác Thái sẵn lòng chia sẻ thông tin với độc giả theo số điện thoại 0975.974.076

Đầu năm 2009, khi đi khám bệnh, các bác sỹ cho biết bác bị xơ gan tiến triển thành ung thư, men gan cao tới 1450 U/l, trong gan có khối u kích thước 5cm. Sau khi trị đốt sóng cao tần và nút mạch ở bệnh viện Bạch Mai, bệnh tình của bác đã bước đầu ổn định, men gan đã về bình thường, nhưng kích thước khối u thì không giảm. Bác thường xuyên phải chịu đựng những cơn đau ở hạ sườn phải, ăn uống kém, mất ngủ, mệt mỏi. Là một người lính, bác không sợ hãi, bi quan trước căn bệnh mình đang mắc phải, mà bác luôn tìm kiếm các tài liệu trên mạng, tham khảo ý kiến bác sĩ để tìm ra những phương pháp chữa ung thư gan tốt nhất. Tuy đã 60 tuổi, nhưng hàng ngày bác Thái vẫn lên mạng thu thập thông tin để cập nhật những tiến bộ của khoa học, đặc biệt là các sản phẩm dành cho bệnh nhân ung thư.

Tháng 10 năm 2013, bác Thái tình cờ đọc được bài viết: CumarGold - Dược chất chữa ung thư cực mạnh từ thiên nhiên. Thấy đây là thuốc chữa bệnh ung thư rất tốt, bác đã tìm mua CumarGold để uống những mong bệnh tình sẽ thuyên giảm. Thật bất ngờ, CumarGold đã làm sức khỏe bác chuyển biến theo hướng tích cực.

Bác kể lại: “Khi đọc thông tin về CumarGold tôi chưa thật sự tin. Tôi ghi lại và tìm hiểu tất cả các thông tin liên quan đến loại thuốc này và tham khảo qua cả tổng đài tư vấn 1800.1796, rồi mới yên tâm đặt mua. Tôi cũng không nghĩ vừa dùng hết 1 hộp đã cảm thấy trong người dễ chịu. Và đến giờ khi dùng hết 4 hộp, ai đến chơi cũng khen tôi hồi này nhìn hồng hào khỏe khoắn hẳn ra và khuyên tôi tiếp tục uống CumarGold.”

Sau khi uống CumarGold thấy hiệu quả, lại nghe tin người anh họ ở quê là bác Đoàn Đắc Mót 75 tuổi, thôn Tỳ Điện, xã Phú Hòa, huyện Lương Tài (Bắc Ninh) bị ung thư phổi giai đoạn cuối, bác Thái khuyên bác Mót nên uống CumarGold với liều 4 viên mỗi ngày. Bác Mót đã điều trị một thời gian tại bệnh viện, nhưng do sức khỏe suy giảm, bác không thể tiến hành phẫu thuật hay hóa trị, xạ trị nên bệnh viện trả về cho người thân chăm sóc. Chỉ sau 2 tuần sử dụng duy nhất CumarGold, bác Mót đã cảm thấy sức khỏe của mình cải thiện rõ rệt. Bác Mót chia sẻ “Tôi đã ăn uống được tốt hơn, đi lại bình thường và thậm chí đi được cả xe đạp. CumarGold đúng là tốt thật, giúp tôi tăng cường thể lực rõ rệt. Trước đó, ngày nào tôi cũng chán nản, bi quan, sau khi dùng thì tinh thần phấn chấn, lạc quan hơn. Tôi sẽ uống CumarGold hàng ngày để sống vui khỏe cùng con cháu.”

Đồng bệnh tương lân, đồng ưu tương cứu! Có bệnh thì vái tứ phương, đã có nhiều người gọi điện cho bác Thái với tâm trạng chán nản, mông lung khi dùng nhiều loại thuốc mà bệnh tình vẫn chưa thuyên giảm, khi đó bác “làm công tác tư tưởng”, giúp họ có được tinh thần lạc quan hơn, có cuộc sống và tư tưởng thoải mái thì mới có động lực chống lại bệnh tật. Giờ đây, bác Thái trở thành điểm tựa tinh thần cho rất nhiều người thân, bạn bè, làng xóm trong cuộc chiến chống lại bệnh ung thư.

Bác đã là “Người bạn đồng hành tin cậy”, người thắp lên những hy vọng cho nhiều bệnh nhân ung thư trên toàn quốc, từ Lai Châu, Sơn La đến tận đất mũi Cà Mau, An Giang. Bác luôn mong muốn ngày càng có nhiều hơn nữa bệnh nhân ung thư biết về thuốc Nano Curcumin - do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam sản xuất.

Bác còn cho chúng tôi xem lời của GS.TS Đào Văn Phan, nguyên Trưởng khoa Dược lý, Đại học Y Hà Nội nói về thuốc Nano Curcumin: “Nano Curcumin tiêu diệt ung thư thông qua 4 cơ chế: 1 là đa đích tác dụng, hiệu quả với nhiều loại ung thư, 2 là chỉ đánh vào tế bào ung thư, không ảnh hưởng đến tế bào lành, 3 là nâng cao được hệ thống miễn dịch của cơ thể, khác với các thuốc khác là làm suy kiệt sức khỏe của bệnh nhân và 4 là phục hồi được quá trình chết theo chương trình của các tế bào ung thư, làm giảm sự phát triển của khối u”.

Bác cho biết: “Qua nhiều trường hợp tôi mới thấy, phần lớn bệnh nhân ung thư và người nhà đều thiếu kiến thức về bệnh, chữa bệnh không đúng cách, có người lại ăn uống kiêng khem quá, dẫn đến suy kiệt và làm cho bệnh tiến triển ngày một nặng thêm”

Vì thế, bác Dương Minh Thái luôn mong muốn chia sẻ với nhiều bệnh nhân ung thư hơn nữa để “tiếp lửa”, thêm niềm tin vào cuộc sống cho những người cùng cảnh ngộ.

Nguồn : Internet

December 18, 2013

Diệp hạ châu, Nhân trần, Nhọ nồi và Râu bắp được đánh giá cao trong điều trị viêm gan b


Tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do các bệnh về gan ở Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới nên vấn đề ý thức tự bảo vệ và điều trị các bệnh về gan, đặc biệt là điều trị viêm gan B của người dân ngày càng được nâng cao. Thêm vào đó là sự nở rộ của các sản phẩm có nguồn gốc thảo dược.

Xu hướng sử dụng thuốc có nguồn gốc thảo dược đang được thịnh hành trong thời gian gần đây. Rất nhiều loại thảo dược theo kinh nghiệm dân gian là hiệu quả trong điều trị viêm gan B đã được bào chế thành thuốc viên để tiện sử dụng. Mỗi loại thuốc có những đặc tính và công dụng khác nhau, được sản xuất bởi những công ty dược uy tín. Tuy nhiên, vẫn còn đó hiện trạng thuốc giả, thuốc chưa qua kiểm duyệt đang làm khó người bệnh.

Hiện nay có rất nhiều loại thảo dược có lợi cho gan. Trong đó đáng chú ý là: Diệp hạ châu, Nhân trần, cỏ Nhọ nồi và Râu bắp. Bốn thảo dược này đã được nghiên cứu và chứng minh là những vị thuoc tri benh gan cực kỳ hiệu quả cao trong việc bảo vệ và hỗ trợ điều trị viêm gan B, phục hồi tế bào gan.

Năm 1982, Diệp hạ châu đã gây sự chú ý cho giới y học về tác dụng điều trị viêm gan B của cây thuốc này. Những thử nghiệm lâm sàng trên trẻ em với bệnh viêm gan truyền nhiễm bằng một chế phẩm có Phyllanthus amaruscủa Ấn Độ đã cho kết quả nhiều hứa hẹn. Sau 30 ngày uống Diệp hạ châu (900mg/ngày) 50% những yếu tố lây truyền trong máu của virus viêm gan B (sinh kháng thể bề mặt của viêm gan B) đã mất đi. Bột Diệp hạ châu (Phyllanthus niruri) cho kết quả tốt với bệnh nhân viêm gan B khi uống 900 - 2.700mg trong 3 tháng liên tục. Nghiên cứu của Nhật Bản và Ấn Độ trong năm 1980 đã xác định những tác dụng điều trị bệnh gan của Diệp hạ châu là do phyllanthin, hypophyllathin.

Trong khi đó, Nhân trần với Saponin Tritecpenic, Flavonozit, acid nhân thơm, cumarin và tinh dầu có tác dụng tăng tiết mật, thải độc gan, chống viêm, kháng khuẩn.

Cỏ Nhọ nồi kích thích tế bào gan tăng tổng hợp prothrombine, giúp phòng ngừa xuất huyết tiêu hoá trong viêm và xơ gan mạn.

Và Râu bắp làm giảm bilirubine, tăng khả năng giải độc gan.

December 16, 2013

Cây vối - vị thuốc hỗ trợ điều trị viêm gan và nhiều bệnh khác

Cây vối có nhiều dược tính quý, có thể điều trị viêm gan vàng da, ghẻ lở, các bệnh tiêu hóa... Đặc biệt có thể chế tạo ra thành nhiều bài thuoc tri benh gan khác nhau rất tốt.

Cây vối có tên khoa học là Cleistocalyx operculatus, thuộc họ Sim (Myrtaceae). Ở nước ta cây vối mọc hoang hoặc trồng. Cây vối thường cao chừng 5 - 6 m, cuống lá dài 1- 1,5 cm. Phiến lá cây vối dai, cứng. Hoa vối gần như không cuống, màu lục nhạt, trắng. Quả vối hình trứng, đường kính 7 - 12 mm, có dịch. Lá, cành non và nụ vối đều có mùi thơm dễ chịu đặc biệt của vối.

Lá, nụ vối diệt được nhiều mầm vi khuẩn gây bệnh.

Ở nước ta, từ lâu, cây vối (lá, nụ, vỏ, rễ) được người dân dùng làm trà uống giải khát. Lá vối có tác dụng kiện tì, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Chất đắng, chát trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa, chất tanin bảo vệ niêm mạc ruột, tinh dầu vối có tính kháng khuẩn nhưng đặc biệt không hại vi khuẩn có ích trong ruột.

Theo tài liệu nghiên cứu của GS Đỗ Tất Lợi, lá và nụ vối có chất kháng sinh thực vật, diệt được nhiều mầm vi khuẩn gây bệnh, kể cả vi trùng Gram- và Gram+.

Theo đông y, vối có vị hơi chát, tính mát, không độc, tác dụng thanh nhiệt giải biểu, tiêu trệ, sát khuẩn. Dân gian thường dùng lá, vỏ, thân, hoa làm thuốc chữa đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy, mụn nhọt, viêm đại tràng mạn tính, lỵ trực trùng.

Nghiên cứu của Viện Đông y cho thấy nụ vối và lá vối có tác dụng kháng sinh đối các nhiều loại vi khuẩn như Gram+,Gram-, vi trùng bạch hầu..., phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis,... và không gây độc hại đối với cơ thể.

Cây vối có tiềm năng chữa bệnh rất cao. Nhiều nghiên cứu về dược tính của cây vối trong những năm qua cho thấy thành phần hoạt tính của nụ vối là một hợp chất polyphenol có tên là 2’,4’-dihydroxy-6’-methoxy-3’,5’dimethylchalcone. Chính chất này đã tạo ra hiệu ứng đảo ngược trên các tế bào ung thư đa kháng thuốc (Multidrug resistance).

Một số phương thuốc trị liệu đơn giảm với cây vối:

Giúp giảm mỡ máu: Nụ vối 15 - 20 g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hoặc nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm.

Dùng 5 loại hoa, gồm nụ vối, kim ngân hoa, hoa cúc, hoa đại, hoa mộc miên (hoa gạo), chế thành dạng trà, uống mỗi ngày, rất tốt cho cơ thể.

Trị đau bụng đi ngoài, phân sống: Lá vối 3 cái, vỏ ổi 8 g, núm quả chuối tiêu 10 g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400 ml nước, còn 100 ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 - 3 ngày.

Chữa đầy bụng, không tiêu: Vỏ thân cây vối 6 - 12 g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày hoặc dùng nụ vối 10 - 15 g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày.

Chữa lở ngứa, chốc đầu: Lá vối vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu.

Viêm gan, vàng da: Dùng rễ vối 200 g sắc uống mỗi ngày.

Chữa viêm đại tràng mạn tính, đau bụng âm ỉ, thường xuyên đi phân sống: 200 g lá vối tươi, vò nát, dùng 2 lít nước sôi, ngâm trong 1 giờ để uống thay nước.

Người chết vì ung thư gan do sống xung quanh kho thuốc trừ sâu cũ

Về với xóm 10, xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) được thông tin về kho thuốc trừ sâu là nguyên nhân dẫn tới cái chết của hàng loạt người dân trong xóm. Càng hoang mang hơn khi mới đây nhất, chỉ trong vòng hơn 1 tháng, cả xóm đã đưa tiễn 3 người đàn ông về nơi yên nghỉ cuối cùng với cùng một chứng bệnh: ung thư.

Ông Trần Bá Huệ - trưởng xóm 10 cho biết: Khoảng 10 năm trở lại đây, người dân trong xóm đau ốm bệnh tật nhiều lắm. Từ khi nhiều người được xác định là chết vì ung thư thì dân thực sự hoang mang. Hầu hết các hộ có người chết vì ung thư đều nằm xung quanh khu vực kho thuốc trừ sâu của HTX dịch vụ nông nghiệp trước đây. Trong 2 năm trở lại đây, xóm 10 có 7 người chết vì ung thư, riêng hơn 1 tháng gần đây thì có tới 3 người chết.

Hầu hết các nạn nhân chết vì ung thư gan hoặc ung thư phổi. Phần lớn các nạn nhân đều đang ở độ tuổi sung sức lao động, do vậy sự ra đi của họ khiến đời sống gia đình hết sức khó khăn. Nhà ông xóm trưởng cách vị trí kho thuốc cũ khoảng 100m theo đường chim bay, nước giếng sau khi bơm lên có mùi hắc, đun sôi có màu nâu đục. “Người ta bảo dân xóm 10 uống thuốc sâu mà sống. Cứ thấy chết liên tiếp thế này ai cũng sợ nhưng không biết làm thế nào cả”, ông xóm trưởng cho biết.


Khu vực nền kho thuốc trừ sâu cũ


Theo ông Trần Xuân Tý - một người dân trong xóm, thì vào những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ trước, Tổ dịch vụ cung ứng thuốc bảo vệ thực vật thuộc HTX dịch vụ nông nghiệp Nghi Thịnh dựng một nhà kho tại khu vực xóm 10. Đây là kho chứa nhiều loại thuốc trừ sâu, trừ cỏ bao gồm cả thuốc nước và thuốc bột, trong đó có thuốc 666 - một loại thuốc cực độc, hiện đã bị cấm sử dụng.

Đến năm 1985, HTX giải thể, kho thuốc bị giải tán, một phần thuốc được chuyển đi nơi khác, số còn lại được chôn xuống ngay dưới nền kho. Hiện tại, khu vực nền kho cũ đã được cấp cho một hộ dân sử dụng. Sau hơn 20 năm kể từ ngày thuốc bị chôn xuống lòng đất, có mặt tại đây chúng tôi vẫn ngửi thấy mùi hắc khó chịu bốc lên. Những chiếc chum sành vỡ nát, theo ông xóm trưởng, trước đây, thuốc trừ sâu, trừ cỏ được đựng trong những chum sành này. Tại khu vực nền kho cũ, người ta đã trồng chuối nhưng cây chỉ èo uột, ít khi thấy trổ buồng.

Chị Lê Thị Lợi, nhà ngay sát kho thuốc cũ cho biết: “Vào những ngày trời đổi gió, nóng bức, mùi thuốc sâu vẫn bốc lên nồng nặc. Ngửi vào thấy tức ngực, buồn nôn, khó chịu lắm. Sợ thuốc sâu ngấm vào nước nhưng nếu không dùng nước giếng thì chúng tôi cũng không biết dùng nước gì cả”.

Những chiếc chum sành đựng thuốc cực độc như 666 vỡ nát nằm lăn lóc


Nước nhiễm độc, vẫn phải dùng

Trước những hoang mang lo lắng của người dân, cuối năm 2011, đoàn cán bộ Viện Hóa học - vật liệu, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự - Bộ Quốc phòng và cán bộ Trung tâm y tế huyện Nghi Lộc đã lấy mẫu nước tại 6 điểm quanh khu vực kho thuốc cũ. Trong đợt 1, trong 6 mẫu nước lấy đi kiểm tra thì 3 mẫu có chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật là Delta BHC (đồng phân 666) cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Trong đợt 2, có 1/6 mẫu chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật là 666 vượt tiêu chuẩn cho phép. Trong kết quả phân tích đợt 3 với 3 mẫu nước thì có 2 mẫu có thuốc bảo vệ thực vật là Delta BHC vượt ngưỡng cho phép.

Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật có trong nước sinh hoạt của các hộ dân xóm 10 đã được cơ quan chức năng kết luận. Tuy nhiên, đây có phải là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng người dân mắc và tử vong vì căn bệnh ung thư gan hay không thì cần phải kiểm tra, nghiên cứu thêm.

Trong khi chờ các cơ quan chức năng kiểm tra thì các hộ dân ở đây vẫn phải sử dụng nguồn nước nhiễm độc để ăn uống và sinh hoạt. Mới đây, đơn vị cung cấp nước sạch đã đến khảo sát địa hình và có phương án xây dựng đường ống cung cấp nước sạch cho các hộ dân nhưng đến bao giờ dân mới có nước sạch dùng thì vẫn chưa có câu trả lời chính xác. Người dân ở đây đang mong chờ các cơ quan liên quan sớm có biện pháp điều tra nguyên nhân dẫn tới căn bệnh ung thư cũng như có biện pháp xử lý nguồn hóa chất tồn dư trong đất.

December 14, 2013

Điều tị viêm gan bị kháng thuốc dễ dấn đến xơ gan

Bà N.T.H năm nay 58 tuổi(Quảng trị) bị viêm gan C và điều trị được 2 năm. Bà H đã tiêm và dùng thuốc được 2 năm, nhưng thời gian sau khi đi tái khám thì bác sĩ bảo bà H bị kháng thuốc

Theo nhận định của các chuyên gia phòng khám 12 Kim Mã về trường hợp của bà H như sau:

Bà H đã được điều trị đặc hiệu cho virut viêm gan C với phác đồ cổ điển là thuốc viên phối hợp với thuốc Interferon chích 1 tuần 3 lần trong 1 năm. Sau đó ngưng chích thuốc 1 thời gian thì bị tái phát.

Nguyên nhân tái phát rất nhiều:

- Do nhiễm phải dòng virut C có độc lực cao, dễ tái phát (virut type 1).

- Do đề kháng cơ thể kém: người già, người tiểu đường, người nhiễm HIV, người bị bệnh lao kèm theo.

- Do dùng các thuốc ức chế miễn dịch của cơ thể: đang dùng hóa trị ung thư, dùng thuốc có chứa chất corticoid (thuốc hạt dưa, rất nhiều sản phẩm đông dược trị đau nhức không nhãn mác, không rõ nguồn gốc đều có pha trộn chất này trong thành phần).

- Do phác đồ cổ điển có tỉ lệ tái phát cao sau khi ngưng thuốc chích 1 thời gian.


Dinh dưỡng chỉ hỗ trợ trong điều trị viêm gan C mãn, điều trị xơ gan chứ không tiêu diệt được virut viêm gan C.

Chúng xin nói rõ lại là mỗi người chúng ta chỉ có 1 lá gan gồm có thùy gan trái và thùy gan phải. Trường hợp bà H chưa cần ghép gan vì chưa phải benh xo gan giai đoạn cuối. Ghép gan chỉ để giải quyết hậu quả là xơ gan giai đoạn cuối không còn hoạt động được nữa chứ không tiêu diệt được virut viêm gan C.

Mãng cầu hỗ trợ điều trị viêm gan và nhiều bệnh khác

Mãng cầu là loại quả nhiệt đới to, nhiều gai. Nó có vị ngọt nên thường được sử dụng để làm kem, bánh kẹo và nhiều loại đồ ăn thức uống, nhiều nhất ở khu vực Nam Mỹ, Đông Nam Á. Bên cạnh vai trò là một loại thực phẩm, mãng cầu có chứa nhiều thành phần giá trị có tác dụng chữa bệnh.

Mãng cầu có tác dụng chữa viêm loét, thấp khớp, hỗ trợ điều trị viêm gan, ung thư.

Những công dụng của trái mãng cầu

- Mãng cầu không chỉ có tác dụng chữa các bệnh như viêm loét, thấp khớp mà còn hỗ trợ điều trị viêm gan và ung thư. Mãng cầu chứa hàm lượng cacbon hidrat giúp giảm lượng đường trong máu.

- Mãng cầu ít béo và có lượng vitamin C cao hơn nhu cầu hàng ngày dành cho một người. Nó còn là vị thuốc chống oxy hóa rất tốt có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch và giúp bạn trẻ lâu.

- Bên cạnh đó, mãng cầu cũng chứa các loại khoáng chất như photpho và canxi giúp xương chắc khỏe và ngăn ngừa bệnh loãng xương ở phụ nữ. Ngoài ra nó còn công dụng chữa sỏi mật, điều hòa axit uric, tăng cường chất xơ, giúp ăn ngon miệng đồng thời vệ sinh hệ tiêu hóa và tăng cường sức khỏe.

- Nghiên cứu của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng lá mãng cầu có khả năng hỗ trợ tiêu diệt tế bào gây ung thư phổi, ung thư tiền liệt tuyến.

Mãng cầu có thể hỗ trợ tiêu diệt các tế bào gây ung thư phổi, tuyến tụy và tiền liệt tuyến


Cách dùng mãng cầu chữa bệnh

- Sử dụng mãng cầu hỗ trợ quá trình sống cho người bệnh ung thư gan, người bệnh đun sôi mười lá mãng cầu với 3 cốc nước, đun cho khi lượng nước được đun giảm xuống chỉ còn một cốc. Uống ít nhất 2 lần một ngày liên tục trong hai tuần. Lá mãng cầu có tác dụng làm tê liệt tế bào ung thư trong khi duy trì sự phát triển bình thường của các tế bào khác.

- Nếu bạn bị đau khớp, hãy đun sôi 20 lá mãng cầu bằng một lượng nước tương đương với 5 cốc nước để gạn ra 3 cốc nước. Uống 3/4 cốc mỗi ngày sẽ giúp bạn giảm đau.

- Nếu nhà bạn có trẻ sơ sinh bị tiêu chảy, trái mãng cầu chín sẽ giúp bạn chữa bệnh hiệu quả cho bé. Vắt mãng cầu và lọc lấy nước. Cho các bé uống 2-3 thìa.

- Đối với người mắc bệnh trĩ, bạn cần cho người bệnh uống nước ép mãng cầu chín. Vắt mãng cầu lấy nước và cho người bệnh uống 2 lần mỗi ngày một cốc đầy, một vào buổi sáng và một vào buổi chiều.

Hội thảo ghép gan để điều trị bệnh gan do chuyển hóa ở trẻ em

Ngày 13/12/2013, Hội thảo “Bệnh lý gan do chuyển hóa ở trẻ em” đã diễn ra tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec với sự tham dự và chia sẻ kinh nghiệm từ các chuyên gia phẫu thuật nhi khoa hàng đầu từ Đài Loan.

Hội thảo do Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec phối hợp với Đoàn chuyên gia Đài Loan do GS. Chinsu Liu, chuyên gia ghép gan chữa ung thư gan Bệnh viện Đa khoa Cựu Binh Đài Bắc, Đài Loan làm trưởng đoàn tổ chức, thu hút sự quan tâm của các bác sỹ chuyên khoa đến từ các bệnh viện khu vực phía bắc.


Tại hội thảo, chuyên gia Đài Loan đã chia sẻ những nghiên cứu mới nhất cũng như kinh nghiệm trong điều trị các bệnh lý gan do rối loạn chuyển hóa như kinh nghiệm sàng lọc sơ sinh; bệnh trữ Lysosome (tiêu thể); rối loạn chu trình Ure…

Đặc biệt, GS. Chinsu Liu, chuyên gia ghép gan Bệnh viện Đa khoa Cựu Binh Đài Bắc đã chia sẻ tới các đồng nghiệp Việt Nam kinh nghiệm ghép gan cho các bệnh gan do chuyển hóa.

Bên cạnh tham luận của các diễn giả Đài Loan, các bác sỹ Việt Nam cũng chia sẻ kinh nghiệm với các chủ đề như rối loạn gan do thiếu hụt citrin ở trẻ em; Hội chứng ARC (Arthrogryposis, renal dysfunction and cholestasis); Case study DGUK; nghiên cứu phân tích đột biến ATP7B ở bệnh nhân Wilson và suy thận ở bệnh nhân Wilson; những bệnh lý gan ở trẻ em có tỷ lệ tử vong cao do nhiều biến chứng năng.

Hội thảo “Bệnh lý gan do chuyển hóa ở trẻ em” không chỉ đem đến cho các bác sỹ Việt Nam kiến thức cập nhật về các bệnh lý do chuyển hóa thường gặp ở trẻ em, mà còn là cơ hội tốt để những bậc phụ huynh có con mắc các bệnh lý về có thể gặp gỡ các bác sỹ, chuyên gia, cũng như tìm hiểu và tiếp cận các thông tin cập nhất nhất trong việc điều trị bệnh bệnh lý gan do chuyển hóa ở trẻ em.

Tháng 8/2013, BVĐK Quốc tế Vinmec cũng đã tổ chức Hội thảo “Các bệnh về Gan” nhằm chia sẻ kinh nghiệm về các bệnh lý; các phương pháp điều trị ung thư gan, Viêm gan B, Viêm gan C; các dịch vụ điều trị kỹ thuật cao liên quan đến gan.

Những chất gây ung thư dễ ăn phải hàng ngày

Ngoài tác nhân môi trường, nước ô nhiễm và thói quen ăn uống của con người trở thành tác nhân hàng đầu gây bệnh ung thư.

Anh Nguyễn Văn Thịnh, 45 tuổi, nhà quận 8, TP.HCM, có gương mặt xanh xao, người còm nhom, cố phát ra từng lời, chữ được chữ mất nhưng được xem là người còn khỏe mạnh nhất trong số những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở đây khu điều trị BV ung bướu TP. HCM.

Bà mẹ già Trần Thị Làm đã ở tuổi xưa nay hiếm (78 tuổi) ngồi bệt dưới chân giường bệnh của anh Thịnh, nói với lên: “Cách đây 4 năm, khi vợ nó chết vì ung thư gan, cũng là lúc nó bị phát hiện ung thư. Lúc đó, người sốt ói, mửa, gia đình đưa đến BV An Bình quận 5, TP.HCM thì phát hiện bi ung thư vòm hầu họng, xạ trị được một thời gian giờ đã di căn sang gan, thận rồi” .

Cũng như vợ, anh Thịnh không thể biết được chính xác cái gì khiến anh ung thư.

“Dù có nhiều nguyên nhân không rõ ràng, nhưng có 2 nguyên nhân chính khiến ngày càng nhiều người mắc bệnh ung thư là thói quen ăn uống và môi trường sống”, BS Lê Hoàng Minh, chủ tịch Hội ung thư TP.HCM, giám đốc bệnh viện ung bướu TP.HCM.

Trong nhóm nguyên nhân môi trường, nguồn nước ô nhiễm cũng là tác nhân hàng đầu, nhất là tại các thành phố lớn.

Nước bẩn gây ung thư

“Nguồn nước bị ô nhiễm là một trong những nguyên nhân gây ung thư gan”, bác sĩ Minh nói.

Theo đó, chất thải từ các nhà máy công nghiệp ra môi trường chưa qua xử lý sẽ khiến nguồn nước dễ bị nhiễm kim loại nặng. Các kim loại nặng, tuy cần thiết cho sinh vật và con người, nhưng với hàm lượng cao lại là nguyên nhân gây ra bệnh hiểm nghèo ung thư.

Khi nguồn nước sinh hoạt bị nhiễm asen, nó sẽ đi vào cơ thể qua nguồn ăn uống và có nguy cơ gây ung thư về da.

“Cần phải cải tạo môi trường để có nước sạch, đồng thời người dân cũng cần chú trọng vấn đề vệ sinh ăn uống để góp phần ngăn chặn bệnh ung thư”, bác sĩ Lê Hoàng Minh nhấn mạnh.

Thức uống
Những loại nước giải khát có đường, phụ nữ sử dụng nhiều không chỉ gây béo phì, tiểu đường, tim mạch mà còn nguy cơn gây ung thư nội mạc tử cung.

Điều này là do khi uống nước ngọt có đường, lượng estrogen tăng lên, nguy cơ ung ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ cũng tăng cao.

Thói quen, nhiều người khi ăn hay bị đầy bụng khó tiêu, thích dùng nước giải khát có ga để kích thích men tiêu hóa, giúp hệ tiêu hóa tốt hơn. Nhưng nước uống có ga lại chứa một hàm lượng carbonat làm tăng nguy cơ bị ung thư thực quản.

Điều này là do nước có ga thường làm căng dạ dày, gây ra hiện tượng trào ngược và trực tiếp dẫn đến ung thư thực quản.

Một số loại thuốc

Ngoài thuốc lá gây ung thư miệng và thực quản còn có những “thủ phạm” khác là rượu, bột hít, thuốc nhai. Những loại này, khi dùng chung hay riêng đều tăng nguy cơ các loại ung thư ở miệng và thực quản.

Ăn nhiều chất béo

Các lại ung thư có liên quan đến ẩm thực bao gồm ung thư vú với phụ (sau mãn kinh), nội mạc tử cung, ruột già, thận, miệng, họng, thanh quản, thực quản…

Theo bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, nhiều người hiện nay có thói quen sử dụng những thực phẩm có nhiều chất béo - một tác nhân dễ gây ung thư.

Nếu sử dụng quá nhiều chất béo thì lượng axit mật tiết ra càng cao, lượng 3-methylchola-threne càng nhiều thì nguy cơ ung thư ruột già càng cao.

Bên cạnh đó, chất béo khi ăn vào sẽ làm tăng prolactin - chất có nguy cơ gây ung thư vú rất cao.

“Xu hướng ung thư vú tại Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng. Nếu theo đà này, thì vào năm 2020, Việt Nam sẽ có khoảng 25.000 ca ung thư vú mỗi năm” PSG.TS Bùi Diệu, phó chủ tịch Hội ung thư Việt Nam.

Các món nướng

Hiện nay, nhiều người đang có xu hướng thích sử dụng thực phẩm hun khói, nướng. Đây là một tác nhân rất dễ gây ung thư, nhưng người tiêu dùng vẫn hồn nhiên sử dụng, thậm chí nhiều người xem đây là khoái khẩu.

Những thực phẩm được hun khói nhiều lần, trong quá trình nướng đi nướng lại sẽ tạo ra một sản phẩm phụ gọi là acrylamide. Acrylamide là một khối u chứa chất độc thần kinh mạnh, có tác dụng phụ không chỉ trên não mà cả đối với hệ thống sinh sản, tiêu hóa.

“Cần hạn chế thức ăn hun khói, muối mặn, làm dưa”, bác sĩ Lê Hoàng Minh, giám đốc Bệnh viện ung bướu TP.HCM đưa ra lời khuyên.

Thịt rất cần cho cơ thể nhưng chất béo trong thịt khi bị nóng quá, hoặc cháy khét cũng sẽ tạo thêm các chất sinh ung.

“Những loại thịt có màu đỏ như: bò, cừu, heo…nếu sử dụng nhiều dễ tăng nguy cơ ung thư, nhất là nguy cơ ung thư ruột ”, giáo sư Hùng cho biết.

December 13, 2013

Sự kỳ diệu về tế báo gốc có thể chế tạo được tế bào gan

Theo một số nguồn tin: Tại Ugra, một thị trấn ở Tây Siberia, nước Nga, các bác sĩ địa phương áp dụng phương pháp điều trị ung thư máu bằng tế bào gốc và cho thấy khả năng phát triển các tế bào khác từ tế bào gốc thực sự kỳ diệu.

Từ hơn 3 năm trước, các bác sĩ vùng Ugra đã cấy ghép tế bào gốc cho bệnh nhân đầu tiên trong vùng, một nam giới 32 tuổi, bị bệnh đa u tủy, một trong những bệnh nguy hiểm nhất của máu.

Hơn 3 năm đã trôi qua sau ca mổ đó và cũng trong thời gian này, các bác sĩ ở Ugra đã thực hiện thành công hơn 34 ca cấy ghép tế bào gốc. Tất cả các bệnh nhân đều khỏe mạnh, mặc dù các bác sĩ cho biết thực tế rủi ro cũng là rất lớn. Tế bào gốc tồn tại trong tất cả các sinh vật. Với con người, trong khi đang ngủ, tế bào gốc sẽ làm việc để khôi phục lại các mô và cơ quan bị hư hỏng. Điều kỳ diệu là tế bào gốc có thể “chế tạo” được tế bào gan, xương hoặc máu.



Khi con người mới sinh ra, trong máu dây rốn, cứ 10.000 tế bào có 1 tế bào gốc nhưng khi con người già đi thì số lượng tế bào gốc cũng giảm theo. Ở độ tuổi 16, trong mỗi 500.000 tế bào chỉ có 1 tế bào gốc, còn ở độ tuổi 50 thì trong mỗi 1 triệu tế bào chỉ có 1 tế bào gốc.

Ở Nga, ngân hàng Cryo lưu giữ tế bào gốc đã được thành lập tại thành phố Khanty-Mansiysk (gần Ugra). Tại “ngân hàng” này, tế bào gốc được lưu giữ trong nitơ lỏng với nhiệt độ âm 196 độ C. Khi cần thiết, các tế bào này có thể được sử dụng sau hàng chục năm. Công nghệ lấy tế bào gốc từ da, mô mỡ, nang lông vốn rất phức tạp và tốn kém. Vì vậy, các nhà khoa học phải thực hiện cách lưu giữ dự trữ tự nhiên được lấy từ máu dây rốn là nơi có thể lấy tế bào gốc một cách dễ dàng.

Nếu một người có vấn đề với sức khỏe, thì tế bào gốc lấy từ dây rốn của người đó đủ để cấy ghép vào máu cho chính người này và chúng sẽ tự tìm thấy nơi có vấn đề. Các nhà khoa học cho biết, trong 100% trường hợp, tế bào gốc đã chữa lành cho chính người bệnh là chủ nhân dây rốn khi được lấy vào lúc sinh ra, cùng với đó, các anh chị em của người bệnh này cũng được hưởng lợi. Điều đó cũng cho thấy máu từ dây rốn của người lúc mới sinh (tất nhiên là từ những người mẹ khỏe mạnh và được họ đồng ý cho) là vô cùng quý giá.

Dứa dại điều trị viêm gan và nhiều bệnh khác

Ngoài tác dụng điều trị viêm gan, xơ gan cổ trướng, thì trong thực tế, Dứa dại còn được sử dụng để chữa nhiều căn bệnh khác như viêm thận phù thũng, viêm tinh hoàn, sỏi thận..

Cũng như các cây cỏ khác, dứa dại còn gọi là dứa gỗ, dứa gai… tên khoa học là Pandanus odoratissium L.F. thuộc họ Dứa dại Pandaceae. Là loại cây mọc hoang ở nhiều vùng trong nước ta, trên các bãi cát ẩm, dọc ven bờ suối, bờ sông ngòi.

Đông y dùng dứa dại làm thuốc từ lâu đời từ những lá hay rễ dứa hoặc quả dứa, hạt quả. Song ngọn đọt non của cây dứa dại người ta dùng làm rau ăn, ngay cả gốc trắng mềm của lá dứa dại cũng làm rau ăn. Để làm thuốc dứa dại cũng được thu hái quanh năm, rửa sạch, thái lát phơi hay sấy khô cất đế dùng dần.

Theo đông y lá dứa dại có vị đắng cay, thơm với công năng sát khuẩn, hạ nhiệt làm long đờm, lợi niệu. Rễ dứa dại được sử dụng làm thuốc nhiều hơn, có vị ngọt nhạt, tính mát, công hiệu lương huyết, lợi tiểu, tiêu độc, trừ đàm, phát hãn (ra mồ hôi), nên dùng trị cảm mạo, phát sốt, viêm thận, thủy thũng, viêm đường tiết niệu, viêm gan, xơ gan cổ trướng, viêm kết mạc mắt. Ngoài ra còn dùng quả dứa dại trị lỵ, ho, hạt quả trị viêm tinh hoàn hay trĩ…

Liều sử dụng trung bình: Cho lá dứa dại cho dạng thuốc sắc từ 15 - 30 g/ngày. Rễ dứa dại khô ngày dùng 15 - 30g cho dạng sắc (có thể sử dụng độc vị hoặc phối hợp với các vị thuốc khác). Quả hay hạt dùng 30 - 60g, sắc uống mỗi ngày.

Để tham khảo và áp dụng xin giới thiệu những phương thuốc trị bệnh chứng từ cây dứa dại.
-  Chữa đau đầu mất ngủ: Rễ dứa dại 20 - 30g, sao thơm, sắc lấy nước, chia 2 lần uống trong ngày.
-  Chữa tiểu buốt, đái ít: Rễ dứa 20 - 30g, rễ dứa gai (trái thơm) 20 - 30g, sắc lấy nước chia 2 lần uống trong ngày.
-  Chữa sỏi thận, tiết niệu: Rễ dứa dai hoặc dứa quả dại 12 - 20g, hạt quả chuối hột 10 - 12g, rễ cỏ tranh 10 - 12g, bông mã đề 8 - 10g, kim tiền thảo (lá đồng tiền hay gọi lá mắt trâu) 15 - 20g, rễ cây lau 10 - 12g, củ cỏ ống 10 - 12g, sắc lấy nước uống làm 2 - 3 lần trong ngày vào trước bữa ăn, mỗi lần khoảng 100 - 150 ml.
-  Trị viêm thận phù thũng: Rễ dứa dại 30 - 60g, thịt lợn nạc 150 - 200g, nấu thành canh ăn ngày một lần, một tuần cần ăn 3 - 4 lần. Kết hợp hằng ngày dùng rau dừa nước khô (Du long thái) 30 - 60g, rau má 12 - 16g, Bông mã đề 10 - 12g, Bồ công anh 12 - 16g, sắc với nước uống vào trước bữa ăn ngày 2 lần, mỗi lần 150 ml.
-  Thuoc tri benh gan (viêm gan, xơ gan cổ trướng): Rễ dứa dại hoặc quả dứa dại 20 – 30g, lá quao nước 20 - 30g, lá cây ô rô 12 - 20g, sắc lấy nước thuốc uống ngày 2 lần, mỗi lần chừng 150 ml vào trước bữa ăn.
-  Chữa chứng viêm tinh hoàn: Lấy hạt quả dứa dại 30 - 60g, lá tử tô 30g, lá quất hồng bì 30g, nấu kỹ lấy nước để còn ấm rửa hằng ngày.
-  Ăn uống kém sau sinh: Rễ dứa dại 15 - 20g, vỏ cây chòi mòi (Antidesma ghaesembilla Gaertn, thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae) 7 miếng cỡ 4x6 cm, sắc lấy nước uống ngày 2 lần vào trước bữa ăn, mỗi lần khoảng 100 ml.

Cách phát hiện bệnh ung thư tế bào gan sớm

Để biết được nguy cơ mắc bệnh xơ gan và ung thư gan dùng phương pháp xác định các đột biến tại vùng BCP/PC của virus viêm gan B ở bệnh nhân viêm gan B từ đó có hướng điều trị ung thư gan kịp thời.

Theo số liệu thống kê, hiện trên thế giới có trên 2 tỷ người bị nhiễm virus viêm gan B (HBV), trong đó có trên 350 triệu người bị viêm gan B mạn. Viêm gan B mạn có thể dẫn tới các biến chứng như xơ gan hoặc ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Ung thư gan nguyên phát là nguyên nhân thứ ba gây tử vong trên thế giới do ung thư và ung thư biểu mô tế bào gan chiếm 85-90% trong số những ung thư gan này.

Một số nghiên cứu mới nhất của Thế giới công bố trong các năm 2011-2013 về các đột biến tại vùng BCP/PC đã chỉ ra rằng việc xác định số lượng, vị trí và sự kết hợp các đột biến này ở những bệnh nhân viêm gan vi rút mạn tính có ý rất nghĩa quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ phát triển thành xơ gan và ung thư tế bào gan trong tương lai 5-10 năm tiếp theo.

Nếu lượng vi rút viêm gan B (HBV DNA) luôn ở mức >106 copies/mL thì sau khoảng 10 năm sẽ có 36,2% số bệnh nhân tiến triển thành xơ gan. Nếu bệnh nhân được điều trị và số lượng virus HBV DNA giảm xuống dưới ngưỡng phát hiện thì chỉ còn 4,5% số bệnh nhân bị xơ gan.

Tương tự, nếu HBV DNA luôn > 106copies/mL thì sau khoảng 10 năm sẽ có 15% số bệnh nhân tiến triển thành ung thư biểu mô tế bào gan. Nếu bệnh nhân được điều trị và số lượng virus HBV DNA giảm xuống dưới ngưỡng phát hiện thì chỉ còn 1,3% số bệnh nhân tiến triển thành ung thư biểu mô tế bào gan.

13 vị trí đột biến trên vùng BCP/PC của vi rút viêm gan B có liên quan với nguy cơ xơ gan và HCC được xác định bang kỹ thuật giải trình tự trực tiếp

Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu “Các đột biến trên vùng BCP/CP của vi rút viêm gan B ở bệnh nhân viêm gan B mạn có liên quan đến xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan ở miền Bắc Việt Nam” trên 72 bệnh nhân sống tại miền Bắc trong hơn 1 năm (12/2010 - 6/2013) có HbsAg dương tính với lượng vi rút HBV DNA >105/mL của PGS Nguyễn Nghiêm Luật, chuyên gia đầu ngành về hóa sinh, cùng cộng sự thực hiện nghiên cứu cho thấy tỉ lệ đột biến gen lên tới gần 85%. Nghiên cứu này đã ứng dụng kỹ thuật giải trình tự gen trực tiếp và được báo cáo tại Hội nghị Khoa học Medlatec 2013 diễn ra tại Hà Nội ngày 12/12.

Như vậy, bên cạnh các yếu tố khác như người trên 35 tuổi dễ mắc bệnh hơn, ở nam giới nhiều hơn nữ giới, nhiễm aflatoxin B1, nghiện rượu, đái tháo đường, bệnh gan nhiễm mỡ không do alcol, nhiễm sắc tố sắt (hemochromatosis), tiền sử gia đình về ung thư biểu mô tế bào gan, kết quả xét nghiệm gen đột biến này rất có ý nghĩa trong việc ngăn chặn và phòng ngừa sớm bệnh ung thư gan và xơ gan ở người viêm gan B.

Rượu gây bệnh hiểm nghèo, đặc biệt bệnh ung thư gan

Khoa học đã chứng minh uống nhiều rượu, bia có thể gây ra các nguy cơ tiềm ẩn mắc các chứng bệnh hiểm nghèo cho cơ thể như:

-  Bệnh xơ gan
-  Bệnh ung thư trong đó phổ biến là ung thư gan, ung thư ruột, ung thư vú (ở cả nam lẫn nữ), ung thư miệng, ung thư hầu, ung thư thực quản, ung thư thanh quản.
-  Tiểu đường
-  Vô sinh do giảm chất lượng tinh trùng ở nam giới.

Ngoài ra, việc sử dụng rượu, bia thường xuyên còn là nguyên nhân gây ra các bệnh khác như gouts, viêm tụy, tăng men gan,….

Cơ chế gây bệnh hiểm nghèo do rượu, bia :

Thông thường, lượng rượu, bia uống vào cơ thể khoảng 2-8% được thải ra ngoài qua đường nước tiểu, mồ hôi hoặc hơi thở; 92-98% còn lại được chuyển hóa hoàn toàn tại gan và thận. Ở người uống rượu vừa phải thì phần lớn rượu được chuyển hóa tại gan và thận theo hai giai đoạn.

Trong giai đoạn 1, rượu được chuyển hóa thành Acetaldehyde dưới tác động của ba hệ thống men: (1) Alcoholdehydrogenase (coenzyme NAD) nằm trong bào tương; (2) hệ thống ôxy hóa rượu ở microsome (Microsomal Ethanol Oxidating System - MEOS) và (3) các men Catalase.

Trong giai đoạn 2, Acetaldehyde được hình thành, là một chất độc, sẽ được ôxy hóa để chuyển thành Acetate. Năng lực chuyển hóa của giai đoạn này chỉ có giới hạn và có sự tham gia của ADH, một enzyme phụ thuộc NAD.

Ở những người phải sử dụng quá nhiều bia rượu, lượng Acetaldehyde được sản sinh với một mức quá lớn sẽ không được chuyển hóa hết và gắn vào màng tế bào gây tổn thương tế bào thông qua các cơ chế gây độc, gây viêm và miễn dịch với hậu quả là quá trình tạo xơ tế bào, gây loạn chức năng tế bào, hình thành các tế bào ác tính. Một đặc điểm cực kỳ quan trọng là các phản ứng trong quá trình chuyển hóa rượu trong cơ thể sẽ giải phóng ra các gốc tự do hoạt động.

Các tế bào bị tổn thương theo thời gian dẫn đến xơ tế bào, chết tế bào hoặc hình thành các dạng bất thường của tế bào từ đó hình thành các bệnh và bệnh hiểm nghèo như ung thư, suy thận, viêm tụy, bệnh xơ gan, tim mạch, tiểu đường,….

Phân biệt GIẢI RƯỢU và GIẢI ĐỘC RƯỢU

Giải rượu thông thường giúp làm giảm nhẹ những triệu chứng khó chịu do ngộ độc rượu gây ra cho cơ thể bằng cách làm chậm lại quá trình chuyển hóa rượu thành chất gây độc, nhờ vậy làm giảm tại chỗ và tức thời các triệu chứng khó chịu do ngộ độc rượu. Tuy nhiên những sát thủ lâu dài của cơ thể vẫn còn đó. Các sản phẩm chuyển hóa và giáng hóa của ethanol (rượu, bia) trong quá trình này là Acetaldehyde và gốc tự do vẫn còn tích tụ và vẫn tồn tại trong cơ thể lâu dài.

Giải pháp?

Để hạn chế sự hình thành các tế bào bất thường, người thường xuyên sử dụng rượu bia cần có một giải pháp tổng thể là giải độc rượu, phục hồi tế bào gan.

Giải pháp tổng thể giải độc rượu, phục hồi tế bào gan không chỉ giải độc tức thời giúp cho cơ thể đào thải tối đa lượng Acetaldehyde tồn đọng sau mỗi lần sử dụng rượu, bia từ đó giúp tỉnh táo, không đau đầu, mệt mỏi. Ngoài ra đây là giải pháp tối ưu bảo vệ cơ thể lâu dài bằng cách phục hồi tổn thương tế bào và ngăn ngừa các bệnh hình thành do rượu.

Đối với người tiêu dùng, chúng ta nên tìm hiểu kỹ thông tin khi quyết định sử dụng một sản phẩm chăm sóc sức khỏe để có được biện pháp tốt nhất bảo vệ cơ thể, giữ gìn sức khỏe đảm bảo một cuộc sống có chất lượng.

December 2, 2013

Độc tính trên tim của hóa chất chữa ung thư gan

Hầu hết các hóa chất chống ung thư đều có độc tính cao đối với nhiều hệ thống cơ quan trong cơ thể, trong đó có quả tim.

Một số loại hóa chất còn có thể gây tổn thương cơ tim dẫn đến rối loạn nhịp tim hoặc suy tim. Hầu hết các hóa chất cũng như tia xạ đều gây tổn thương tim bằng cách tạo ra các gốc ôxy hóa tự do.

Hóa chất chữa ung thư gan gây độc cho tim.

Mặc dù có nhiều loại hóa chất được ghi nhận có thể gây ra các tổn thương cơ tim, nhưng doxorubicin là thuốc có nguy cơ lớn nhất.

Các dẫn xuất khác trong nhóm anthracyclin (như daunorubicin, epirubicin, idarubicin) và một số hóa chất như cyclophosphamid, arsenic trioxid, denileukin diftitox, gemtuzumab ozogamicin, melphalan, octreotid, oprevelkin, paclitaxel, tretinoin, fluorouracil và mitoxantron đều được ghi nhận có thể gây ra các rối loạn nhịp tim hoặc suy tim.

Triệu chứng

Các biểu hiện thường gặp của nhiễm độc tim do hóa chất chống ung thư mà người bệnh có thể cảm nhận được là mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, khó thở tăng lên khi nằm, trống ngực đập mạnh, phù chân, đi tiểu ít.

Thăm khám lâm sàng có thể thấy rối loạn nhịp tim, nghe tim có các tiếng thổi và một số biểu hiện của suy tim như nhịp tim nhanh, gan to, tĩnh mạch cổ nổi. Để có thể phát hiện sớm các tổn thương tim hóa trị liệu chống ung thư, cần theo dõi người bệnh chặt chẽ sau khi dùng thuốc, đặc biệt lưu ý sự xuất hiện của các rối loạn nhịp tim hoặc các dấu hiệu của suy tim.

Dự phòng

Một số biện pháp có thể giúp giảm nguy cơ nhiễm độc tim do các hóa chất chống ung thư như thay đổi liều dùng, cách dùng của thuốc, sử dụng các thuốc ít độc tính và dự phòng bằng thuốc.

Thay đổi liều dùng
Để giảm thiểu nguy cơ nhiễm độc cơ tim, các hóa chất cần được sử dụng với tích lũy liều thấp nhất, đặc biệt là với nhóm anthracyclin. Các nghiên cứu cho thấy, nếu dùng doxorubicin với tổng liều dưới 550mg/m2 da, nguy cơ nhiễm độc cơ tim chỉ là 1%.

Tuy nhiên, khi tích lũy liều tăng lên 560-1155mg/m2 da, nguy cơ nhiễm độc tim tăng lên tới 30%. Có sự khác biệt đáng kể giữa các cá thể về khả năng dung nạp doxorubicin, một số người có thể dùng liều rất cao mà không gây các bất thường ở tim, nhưng một số người dùng liều thấp (tổng liều dưới 550mg/m2) cũng gặp phải các tổn thương tim.

Thay đổi phương pháp dùng thuốc

Có một số bằng chứng cho thấy, phương pháp dùng thuốc có thể ảnh hưởng đến khả năng nhiễm độc tim của thuốc. Truyền thuốc quá nhanh làm tăng nhanh nồng độ thuốc trong máu có thể dẫn đến tăng nguy cơ nhiễm độc tim.

Cùng một lượng thuốc, nếu được truyền chậm trong một thời gian kéo dài có thể giúp giảm nguy cơ này so với việc truyền nhanh trong một thời gian ngắn. Ngoài ra, nếu thuốc được sử dụng chia từng liều nhỏ với khoảng cách tương đối gần giữa các liều cũng giảm nguy cơ nhiễm độc tim so với việc dùng các liều cao với khoảng cách giữa các liều kéo dài.

Sử dụng các dẫn xuất anthracyclin liposomal ít độc tính

Nguy cơ nhiễm độc tim do anthracyclin có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng các dẫn xuất anthracyclin liposomal như liposomal doxorubicin, pegylated liposomal doxorubicin. Trong các dẫn xuất này, anthracyclin được gói bọc trong các giọt mỡ nhỏ, nhờ đó sẽ lưu lại lâu hơn trong cơ thể và được phóng thích từ từ vào trong máu, không làm tăng cao nồng độ thuốc trong máu.

Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, dùng công thức liposomal doxorubicin giúp giảm rõ rệt nguy cơ nhiễm độc tim so với khi dùng công thức doxorubicin thông thường nhưng hiệu quả chống ung thư tương đương nhau.

Dùng thuốc dự phòng dexrazoxan

Dexrazoxan được chứng minh là có thể giúp giảm nguy cơ nhiễm độc tim của doxorubicin bằng cách ngăn chặn sự tạo thành các gốc ôxy hóa tự do. Gốc ôxy hóa tự do là các phân tử kém bền vững, được tạo ra trong cơ thể từ các phản ứng ôxy hóa hoặc do sự tiếp xúc của cơ thể với một số yếu tố môi trường như khói thuốc lá, tia xạ, hóa chất.

Điều trị

Cũng như với mọi tác dụng phụ khác của thuốc, ngưng hoặc giảm liều của thuốc gây độc cho tim là biện pháp đầu tiên và quan trọng nhất, cần được làm ngay khi có thể. Tình trạng suy tim và rối loạn nhịp tim do hóa trị liệu chống ung thư cũng được điều trị tương tự như do các nguyên nhân khác.

Các thuốc chính được sử dụng trong điều trị suy tim là thuốc lợi tiểu (như furosemid, veospiron), thuốc trợ tim (như digoxin), thuốc ức chế men chuyển (như benazepril, enalapril và fosinopril) và thuốc chẹn bêta giao cảm (như metoprolol, propranolol và atenolol). Tùy thuộc vào loại rối loạn nhịp tim gặp trên điện tâm đồ, một số thuốc điều trị loạn nhịp tim có thể được sử dụng như amiodaron, mexiletil, propafenon...

Câu chuyện bi kịch về "người mẹ bệnh nuôi các con ung thư máu"

Chán cảnh vợ con bệnh tật, nợ nần chồng chất, chồng bỏ nhà ra đi, gần chục năm nay người phụ nữ này đã lặng lẽ, nuốt cay đắng, một mình đưa các con đi bệnh viện. Để rồi một trong ba đứa con đã không thể tiếp tục sự sống, hai đứa con còn lại cùng người mẹ đều mang bệnh trọng, ngày qua ngày vật vờ trong ranh giới giữa sự sống và cái chết. Đó là hoàn cảnh vô cùng bi đát của chị Ngô Thị Hồng, trú tại thôn 10, xã Thạch Hòa, huyện Thạch Thất, TP.Hà Nội.

Chồng bỏ, con mất, còn lại nỗi đau bệnh tật

Sinh hai đứa con, không may cả hai đều có gene máu trắng, bé thứ hai bị nặng, chạy chữa 4-5 năm trời, tiêu tốn khá nhiều tiền của nhưng cuối cùng vẫn không thể cứu sống. Nỗi đau mất con khiến vợ chồng chị Hồng suy sụp đi một thời gian, nghĩ đến tương lai phía trước, anh chị quyết định sinh thêm bé thứ ba là Hoàng Công Tiến. Bất hạnh lại ập đến khi phát hiện bé Tiến cũng mắc bệnh máu trắng lúc mới 6 tháng tuổi. Giọt máu thứ 3 của vợ chồng chị Hồng đã trở thành gánh nặng vô cùng lớn, đẩy cuộc sống gia đình vào vực thẳm.

Chán cảnh con cái bệnh tật, nợ nần ngập cửa, chồng là anh Hoàng Công Hà đã bỏ nhà đi cách đây chục năm, không quay trở về. Chị Hồng không còn cách nào khác đành cắn răng chịu khổ, một mình chăm 2 đứa con kém may mắn.

Hai mẹ con chị Ngô Thị Hồng

Gạt nước mắt, chị Hồng kể: “Con cái bệnh tật, mất đi một đứa đã đau lòng lắm rồi, sinh thêm đứa nữa cũng chẳng được như người ta, dù chỉ một chút thôi cũng không được. Ngày nào nhìn con tôi cũng khóc, chục năm rồi chỉ có mẹ con tôi trong ngôi nhà cấp 4 này. Và sẽ không thể kể hết những nỗi khổ mà tôi đang gánh chịu”.

Đau đớn nhìn thân xác con bị hành hạ

Bé Tiến bây giờ đã 12 tuổi, căn bệnh máu trắng đã đeo bám em suốt 11 năm qua kể từ ngày phát hiện bệnh. Cơ thể em bị biến dạng đi trông thấy, đầu to, bụng phình trướng ra, chân tay teo tóp lại. Căn bệnh quái ác không chỉ vắt kiệt sức lực của Tiến mà còn gây ra biến dạng xương mặt, xương chân tay, xương hông. “Một thời gian cháu nó bị biến dạng xương tay chân, động đâu gãy đấy, cứ bó bột xong lại gãy, vừa rồi đi hội chẩn, các bác sĩ cho biết cháu bị biến dạng xương hông. Nó đau nên khóc suốt, thương con mà chỉ biết ôm con khóc thôi, biết làm sao được” - chị Hồng tâm sự.

Trung bình nửa tháng chị Hồng lại đưa con lên Bệnh viện Nhi Trung ương chữa trị. Chi phí mỗi lần đi mất ít nhất 2 triệu, trong vòng 11 năm nay, chị đã phải vay mượn hơn 100 triệu để lo cho con. Vay nhiều mà không có trả, không ít lần ngân hàng xuống đòi lãi, người quen đến đòi tiền, chị khất nợ một vài lần không được, có lúc phải chạy trốn sang nhà hàng xóm.

Bởi thế mà hai tháng nay, chị không thể đưa Tiến lên viện theo lịch hẹn của bác sĩ. Chị nói trong nấc nghẹn: “Giờ tôi chẳng thể vay nổi tiền để đưa con đi viện nữa. Bác sĩ bảo gia đình chuẩn bị tiền để ghép tủy cho con nhưng thử hỏi giờ tôi kiếm đâu ra 200 triệu để ghép. Tôi đành phải để con ở nhà, tôi đã cố hết sức rồi, sinh con ra để con như thế này, tôi cũng đau lòng lắm chứ”.

Bất hạnh của người phụ nữ đang ở trước mắt chúng tôi càng lúc càng quá sức chịu đựng khi chị cho biết thêm chị đang mang trên mình hai căn bệnh: U nang cổ tử cung và ung thư vòm họng. Mấy năm trời đưa con đi viện, người mẹ ấy đã âm thầm chịu đựng sự giày xéo của những căn bệnh hiểm nghèo. Khi được hỏi tại sao chị không đi chữa trị, chị nuốt nước bọt rồi nói: “Thì bây giờ tất cả vì con nên kệ, chữa cho con được như thế nào thì tốt thế đó, giờ chữa cho mẹ nữa thì tiền đâu ra. Cô xem trong nhà còn có gì đáng giá nữa đâu. Mỗi lần đi viện, mọi người hỏi - hai mẹ con đi như thế này, bỏ nhà như thế không sợ trộm cắp à, thì tôi đều phải bảo nhà có cái gì nữa đâu mà mất, có vài cái nồi, cái xoong, lấy được thì lấy”.

Cảnh hai mẹ con vò võ trong nhà, cả hai đều ôm bệnh, tưởng chừng như không còn có một tia sáng nào có thể hé mở. Song chị Hồng vẫn còn có một niềm tin khi nhắc đến đứa con gái đầu là em Hoàng Thị Yến. “Con bé là tất cả những gì tôi hy vọng, nó khổ từ bé, hai đứa em bị bệnh đều được nó chăm sóc, giờ nó quyết tâm học trung cấp y, tôi vui lắm. Nhưng tôi chỉ buồn là tôi không nuôi được nó học”, - nói đến đây, chị Hồng nghẹn ngào cúi mặt xuống.

Yến năm nay 22 tuổi, vì thương mẹ, em đã học trung cấp y với mong muốn có thể chữa bệnh được cho em và mẹ. Song vì hoàn cảnh cơ cực, việc ăn ở học tập của em gặp rất nhiều khó khăn, mỗi ngày em chỉ dám tiêu 6 nghìn đồng. Hoàn cảnh éo le của mẹ con chị Hồng dường như đã không còn lối thoát.


Lương y sở hữu bài thuốc trị bệnh gan độc đáo ở Hà Giang

Theo Gia đình và Xã hội đã thu thập được - tại nơi miền sơn cước với xung quanh là bốn bề núi rừng, mỗi khi có người bị bệnh gan là họ lại tìm đến ông, hàng trăm người từng gần kề với cái chết được ông cứu sống và trở về với cuộc sống thường ngày. Ông là Hoàng Ngọc Cảnh ở thôn Tân Trang, xã Tân trịnh, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.

Ông Hoàng Ngọc Cảnh.


Hành trình vái tứ phương tìm thầy trị bệnh "nan y"

Những ngày rong ruổi nơi địa đầu tổ quốc, chúng tôi tình cờ nghe được câu chuyện về vị lương y sở hữu bài thuoc tri benh gan nổi tiếng nhất Hà Giang. Chúng tìm đến ông Cảnh vào một buổi chiều ngoài trời mưa rả rích. Trong căn nhà nhỏ nằm hun hút trong khe núi, ông Cảnh thanh thoắt rót nước lá rừng mời khách rồi kể về chuyện nghề, chuyện đời. Khi nhắc đến con đường đưa ông đến nghề làm thầy lang, ông bảo đó là cái số trời quyết, nếu không vì ngày trước ông là bệnh nhân của căn bệnh nan y này thì giờ ông đã không được làm cái nghề phúc đức như bây giờ.

Theo như ông Cảnh, thì năm 1985 ông mắc bệnh nặng, khắp người da vàng người phù lên như trái mọng nước, đến việc đi lại cũng khó khăn. Đi bói thì các thầy bảo, ngày xưa đi đốt nương không tránh mộ của người chết nên giờ hồn họ đến tìm, một số thầy khác lại cho rằng năm đó là năm gặp hạn nên cần dùng dê để giải, thế là gia đình lại đi tìm thầy về cúng suốt 3 ngày 2 đêm mà bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Đi đến bệnh viện khám thì các bác sĩ nói là bị sơ gan cổ trướng giai đoạn cuối và khuyên về nhà chuẩn bị hậu sự…".

Trong nỗi tuyệt vọng khi ấy, cứ ai rỉ vào tai ông có người chữa được bệnh gan bằng thuốc nam là ông lại tìm đến họ. Khi đó, nghe danh ở xã Yên Thuận (Hàm Yên - Tuyên Quang) có một người thầy thuốc tài ba chữa bệnh gan cực giỏi, với hy vọng chữa được căn bệnh nan y của mình ông lại cất công khăn gói ra đi với hy vọng sẽ tìm được nguồn ánh sáng mới. Lần này "thần may mắn" đã gõ cửa nhà ông khi gặp được một vị thầy thuốc bậc thầy trong chữa trị các bệnh về gan, khi ấy người đó yêu cầu muốn trị được bệnh này phải ở lại đó vài tháng để được trực tiếp quan sát tình trạng sức khỏe để chọn thuốc cho phù hợp, đặc biệt phải kiêng ăn đồ nóng như thịt gà, thịt trâu, thịt bò, rau bí, rượu, bia… Sau hai tháng ăn kiêng chữa trị, bệnh ông khỏi hẳn. Thấy ông Cảnh là người thật thà người thầy thuốc tên Bàn Văn Tráp đã nhận ông Cảnh làm con nuôi và truyền dạy bài thuốc chữa trị bệnh gan bằng lá cây rừng đặc biệt hiệu quả này.

Xin bệnh nhân được chữa bệnh

Sau khi căn bệnh vô phương cứu chữa của ông khỏi hẳn và trở về với cuộc sống đời thường, khi ấy ít ai biết và tin ông có thể trị được các bệnh về gan, đặc biệt là sơ gan cổ trướng. Hỏi về bệnh nhân đầu tiên, ông cho biết đó là một người phụ nữ tên Thơm ở xã bên, người này cũng đã từng rơi vào cảnh như mình trước đó, đi khắp nơi chữa trị mà vẫn không khỏi. Nghe vậy, ông Cảnh đã phải đến tận nơi đề nghị được chữa trị, ngày đầu gia đình bệnh nhân không tin tưởng nhưng sau nhiều lần năn nỉ mới được chấp thuận, chỉ sau vài tuần được ông sắc thuốc chị Thơm đã hoàn toàn bình phục. Từ đó trở đi cái tên Cảnh Huế (người Tày thường gọi tên bố gắn với tên con trai cả - PV) đã được người dân khắp trong và ngoài xã lân cận biết đến với biệt tài trị bệnh gan giỏi, lấy y đức làm trọng.

Cũng sau năm ấy, cả làng ông bỗng nhiên mắc căn bệnh lạ từ đầu làng đến cuối xóm một không khí ảm đạm bao trùm lên ngôi làng vốn dĩ bình yên bỗng trở nên u ám. Theo ông Cảnh, lúc ấy sắc mặt ai nấy đều vàng, đi xét nghiệm thì các bác sĩ đều kết luận là viêm gan A, thậm chí còn có một số tin đồn cho rằng do đường hóa học khi đó nhập khẩu bị nhiễm độc nên gây ra bệnh, lại có người cho rằng ngôi làng bị "ma ám" khiến nhiều người vô cùng hoang mang đi mời thầy cúng để hóa giải. Khi đó ông Cảnh được biết đến là người từng chữa được bệnh gan bằng cây lá rừng rất hiệu nghiệm, nên nhiều người trong làng đã tìm đến nhờ ông chữa trị. Quả nhiên bài thuốc bí truyền của người thầy thuốc luôn đặt y đức lên trên hết ấy đã giúp cho nhiều người tai qua nạn khỏi trở về với không khí vui vẻ rộn ràng như xưa, cũng kể từ đó tiếng tăm của ông lại càng được nhiều người biết và tìm đến.

Anh Hoàng Hoàng Văn Huế dẫn PV đi xem cây thuốc.


Khi chúng tôi hỏi ông có thể chữa được những loại bệnh gan nào, ông Cảnh cho biết: "Bình thường là viêm gan A, sơ gan cổ trướng và gan lành tính. Thuốc có thể trị bệnh này là 6 loại cây rừng cực kì hiếm, đặc biệt khó trồng nên phải đi hàng chục km đường rừng mới có thể hái được những loại cây này. Chủ yếu dùng thân và lá cây đem về cắt nhỏ sau đó sắc uống có tác dụng chữa bệnh gan rất hiệu nghiệm, đặc biệt dùng tươi thì tốt nhất. Ông Cảnh cho biết hiện tại muốn có được thuốc cứu người ông phải lên tận chóp núi mới tìm được những loại cây này, cho đến giờ cạnh nhà ông chỉ có một cây duy nhất vì những loại cây này chủ yếu ưa lạnh và mọc ở rừng đầu nguồn.

Anh Hoàng Văn Huế, con trai duy nhất trong gia đình được ông Cảnh truyền lại bài thuốc dẫn chúng tôi ra xem cây thuốc ở gần nhà bảo: "Cây thuốc thuốc này nhìn bề ngoài trông giống hoa hồng đỏ bình thường, mọc trên lưng chừng núi. Nhưng có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho các loại cây kia trị bệnh". Anh Huế cho biết thêm, ngoài loại cây này trong bài thuốc còn có một số vị như cây xổ cổ thụ hàng trăm năm, cây dứa nước, lá dong rừng… sau khi điều trị khỏi hẳn sẽ có một thang thuốc cắt sau cùng để bệnh không tái phát.

Tâm đức của người thầy thuốc vì dân nghèo

Chúng tôi tìm gặp chị Nguyễn Thị Thơm, ở thôn Lủ, xã Tân Bắc. Chị bảo, nếu không có ông Cảnh thì chắc chị đã không ở đây tiếp chuyện được với chúng tôi. Chuyện là năm ấy người chị bỗng nhiên khó chịu, sức khỏe giảm sút đi khám ở bệnh viện bác sĩ kết luận là sơ gan cổ trướng, rất khó chữa, gia đình đi bốc thuốc khắp nơi mà bệnh tình vẫn không thuyên giảm, sau đó có một người đàn ông đã tự nguyện đến xin được chữa bệnh, khi ấy gia đình chị đồng ý nên chị mới có được như bây giờ. Gần đây nhất là ông lý Văn Chán (Bắc Quang - Hà Giang) và anh Lê văn Mạnh ở (Vĩnh Tường- Vĩnh Phúc) cũng bị bệnh gan được ông điều trị và hiện nay đã trở về cuộc sống bình thường.

Năm nay đã quá ngưỡng ngũ tuần, nhưng ngày ngày ông Cảnh vẫn lên rừng làm nương, trồng sắn lúa ngô để nuôi đàn gà lợn, ông bảo: "Giờ mình vẫn còn khỏe mạnh, nuôi được gà vịt để khi khách đến còn mổ đãi khách, đời người ngắn ngủi sống được bao nhiêu nên phải sống cho thoải mái". Khi hỏi về thành tích chữa bệnh ông suy tư: "Từ trước đến nay không nhớ đã bao nhiêu người đến nhờ ông chữa, có những nhà sau khi chữa khỏi họ thường xuyên đến thăm hỏi gia đình vào những ngày lễ tết, thậm chí có người còn xin được nhận làm con nuôi". Ông bảo mỗi một ca chữa khỏi, tiền công, tiền biếu đối với ông là sự tùy tâm, tuyệt nhiên không đòi hỏi gì nhiều, tùy theo hoàn cảnh mà lấy, có khi chỉ là thóc gạo, con lợn con… ông vẫn vui lòng.


Giảm tác dụng phản ứng phụ của điều trị ung thư bằng hóa trị liệ

Nỗi ám ảnh của các bệnh nhân ung thư gan đang điều trị ung thư gan bằng hóa trị liệu và cũng là niềm ưu tư của các bác sĩ bệnh viện ung thư trên toàn thế giới là gì? Đó chính là phản ứng phụ của thuốc.

Hóa trị liệu là 1 vũ khí quan trọng trong điều trị ung thư, tuy nhiên, do hóa chất này được đưa đi khắp cơ thể nên có thể gây ra các tác dụng phụ đối với những tế bào máu được tạo ra từ tủy xương, tế bào chân tóc, tế bào trong miệng, trong đường tiêu hóa, trong tim, phổi, thận, bàng quang, tế bào thuộc hệ thống thần kinh và hệ thống sinh sản…

Suy tủy là một trong những tác dụng ngoại ý thường xảy ra khi sử dụng các thuốc hóa trị, chúng tiêu diệt một phần những tế bào tủy sống làm tế bào máu được tạo ra ít hơn. Vì thế, tác dụng phụ suy tủy luôn là một vấn đề mà các bác sĩ chú ý khi chọn thuốc hóa trị cho bệnh nhân ung thư.

Ngoài những tác dụng không mong muốn đã nêu ở trên, khi dùng hóa trị liệu, bệnh nhân ung thư có thể gặp phải những triệu chứng như buồn nôn, nôn, rụng tóc, táo bón, tiêu chảy, khô rát mắt, khô miệng, nhức đầu, trầm cảm, lú lẫn, tai biến…. Mặc dù các tác dụng phụ này thường chỉ kéo dài trong vài ngày điều trị, sau đó sẽ giảm dần và hết hẳn khi bạn kết thúc điều trị nhưng nếu người bệnh không có sự chuẩn bị về tinh thần thì tình trạng có thể kéo dài, dẫn đến không ăn uống được, khó chịu, cáu gắt… không còn đủ sức khỏe cho những lần vào hóa chất tiếp theo.

Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào điều trị đều có tác dụng phụ giống nhau, mức độ biểu hiện cũng khác nhau tùy thuộc vào loại thuốc, liều lượng và cũng tùy thuộc vào từng cơ thể người bệnh.

Niềm ưu tư của các bác sĩ là nếu sự suy nhược cơ thể kéo dài dẫn đến tình trạng suy còi – suy kiệt thì bác sĩ sẽ gặp rất nhiều khó khăn cho phác đồ điều trị. Điều này bác sĩ cũng không muốn và hiện cũng đang tìm kiếm một phương pháp mới nào đó cho vấn đề này.

Nay đã có Dr BRF K1 một giải pháp hữu hiệu giúp bệnh nhân ung thư không còn nỗi ám ảnh quá lớn khi đang điều trị bằng hóa trị liệu mà còn giúp bệnh nhân ăn uống một cách bình thường, có cảm giác thèm ăn, dễ ngủ, chống suy nhược và tăng cường hỗ trợ trong việc điều trị ung thư.


Sản phẩm Dr BRF K1 được chiết xuất từ thiên nhiên với hàm lượng sử dụng chiết xuất nấm Vân Chi mỗi ngày là 3.000mg, cùng với sự kết hợp của nấm Linh Chi và Nano Curcumin sẽ làm giảm nhanh các phản ứng phụ của thuốc khi đang hóa – xạ trị hoặc đang điều trị viêm gan C, giúp bệnh nhân ăn ngon miệng, dễ ngủ, tăng cường khả năng miễn dịch. Bệnh nhân sẽ thấy hiệu quả sau 4 – 8 ngày sử dụng và sau đó 1 tháng sẽ thấy kết quả rất rõ ràng.

Theo bà Nguyễn Thị Tĩnh (54 tuổi, giáo viên) - bệnh nhân đang điều trị bệnh ung thư xương hàm trên, ở Trà An, Bình Thủy, Cần Thơ cho biết: “ Sau khi hóa trị xong, cơ thể tôi mệt mỏi, đi không nổi, chân tay nhức, lúc đó tôi cảm giác của tận cùng của sự tuyệt vọng, tôi bắt đầu dùng sản phẩm Dr BRF K1. Sau khi uống được một thời gian thì tôi thấy khỏe dần, ăn được, ngủ được và lúc đó sự đau nhức cũng giảm dần, giảm dần. Sau một thời gian thì cân nặng cơ thể tăng lên thấy rõ.”

Theo bà Nguyễn Thị Phượng (51 tuổi) - bệnh nhân đang điều trị ung thư gan đã di căn tới xương ở thời kì cuối ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre cho biết: “Khi từ bệnh viện về, tôi đi không được, ngồi dậy rất mệt, tay chân và vai tê nhức không thể cử động. Sau khi uống sản phẩm Dr BRF K1 được một thời gian thì tôi đứng được, tay cử động linh hoạt hơn. Bây giờ thì tôi hết nhức mà ăn uống đều bình thường và da dẻ hồng hào, ai cũng khen là sao mới đây mà khác quá vậy. Bây giờ tôi đi thì đi xa được 1 cây số, trong khi lúc bệnh chỉ có 33 kg thì bây giờ tôi lên được 36 kg. Giờ đây tôi ngủ không còn cảm giác đau nhức nữa, ăn không ói mửa và trở về trạng thái bình thường.”


November 27, 2013

“Dù đói hay đau, ăn rau vẫn tốt”

Dân gian có câu “đói ăn rau, đau uống thuốc”, thế nhưng một số loại thực vật có tác dụng chữa bệnh hữu hiệu lại có thể được chế biến thành món ăn, thức uống bổ dưỡng. Đặc biệt đối với những người có bệnh lý về gan hay cần tăng cường chức năng gan thì “dù đói hay đau, ăn rau vẫn tốt”.

Hãy “lắng nghe cơ thể”

Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất và là một trong những cơ quan nội tạng quan trọng nhất trong cơ thể. Chính vì thế, những thay đổi về gan bắt đầu từ suy giảm chức năng gan có thể dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng, nếu không được phát hiện kịp thời. Theo ước tính, mỗi năm có khoảng 1 triệu người trên thế giới tử vong vì bệnh gan. Trong khi đó, Việt Nam có khoảng 8 triệu người mắc các bệnh viêm gan mãn tính, ung thư gan, xơ gan…đó là chưa tính những người bị viêm gan do vi rút gây ra.

Có khoảng 99% dân số mắc bệnh viêm gan siêu vi A, tuy nhiên vi rút này không gây ảnh hưởng nghiêm trọng và sống hòa bình trong cơ thể người.

Các vấn đề về gan khác có thể dễ dàng phát hiện thông qua những thay đổi bên ngoài. Một số dấu hiệu cho biết gan có vấn đề thường thấy như mụn nhọt, biếng ăn, rối loạn tiêu hóa, cảm giác mệt mỏi chán chường.

Bị nổi mụn, biếng ăn là một trong những dấu hiệu cho biết gan có vấn đề.

Biểu hiện cụ thể và rõ ràng nhất của người bệnh gan chính là sự thay đổi sắc tố da. Gan có khả năng thanh nhiệt, nên ảnh hưởng đến các bệnh ngoài da.

Dễ nhận biết nhất chính là vàng da. Khi chức năng gan kém, không thể lọc hết độc tố sẽ dẫn đến tích tụ lâu ngày trên da, dẫn đến vàng da thậm chí sẫm nâu, gây kích ứng và mẫn ngứa.

Ngoài ra, những người bệnh gan còn bị nổi ban đỏ ở lòng bàn tay và bàn chân. Đó là biểu hiện thường gặp ở những người bị bệnh gan do thường xuyên uống rượu bia.

Những loại “rau” tốt cho gan

Hạn chế bia rượu và có chế độ dinh dưỡng hợp lý chính là một trong những biện pháp bảo vệ gan hữu hiệu.

Ngoài ra, một số loại thảo dược mang vị thuốc, rất tốt cho gan lại có thể chế biến thành các món ăn, thức uống khá bổ dưỡng như actiso, biển súc (rau đắng), rau ngô, mã đề…

Actiso từ lâu đã được biết đến với công dụng chữa đau gan khá hữu hiệu. Các dược chất cynarin, polyphenol đường inulin có nhiều trong thân, hoa và lá actiso giúp tăng cường khả năng hoạt động của gan, mật, chống động và kích thích ăn ngon. Actiso có thể dùng nấu canh, sao khô làm thuốc hoặc nấu uống thay nước lọc mỗi ngày, hữu hiệu cho những người bị suy giảm chức năng gan, viêm gan, vàng da…

Biển súc (rau đắng) là một trong những loại rau vị thuốc phổ biến. Biển súc còn được chế biến thành nhiều món ăn ngon như trộn gỏi, nấu canh… Biển súc chứa nhiều tinh dầu và các dược tính emodin, avicularin có tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, chữa trị hiệu quả các chứng mụn nhọt, viêm nhiễm…

Ngoài ra, các bài thuốc từ nhân trần, mã đề, củ nghệ, bìm bìm… cũng có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh gan hữu hiệu cũng như tăng cường chức năng gan.