July 18, 2013

Hãy nói không với bệnh ung thư

Nhiều người cứ nghĩ bị ung thư là trời kêu ai nấy dạ, rồi buông xuôi chạy thầy chạy thuốc dân gian, đến lúc chịu không thấu mới đến bệnh viện thì vất vả lắm. Ung thư biết sớm trị lành mà.

Việc tấn công ung thư ngày càng hiệu quả. Bác sĩ định rõ bệnh, xác định đúng giai đoạn rồi lựa chọn cách điều trị, chẳng hạn kết hợp nhuần nhuyễn phẫu-hóa-xạ với các tiến bộ mới như liệu pháp nhắm trúng đích.

Phẫu trị: “Sợ có hơi dao kéo làm ung thư chạy khắp nơi” thường ám ảnh bà con. Mổ đúng cách (lưỡi dao mổ bứng tận gốc khối bướu) là phương pháp điều trị tốt nhất cho nhiều loại ung thư, nhất là phối hợp với các phương pháp khác. Các bác sĩ mổ bớt rộng: bảo tồn vú bằng cách mổ lấy khối bướu vú kèm xạ trị sau mổ; tránh để hậu môn nhân tạo khi mổ cắt ung thư trực tràng. Phẫu thuật nội soi lấy các khối bướu thông qua các ống đưa tới ruột, phổi, tuyến tiền liệt hoặc bọng đái. Thật êm ái.

Xạ trị: Các tia phóng xạ (tia X, tia gamma) tàn phá các khối bướu ác tính. Nay các chùm tia thần kỳ hơn. Máy gia tốc bắn tia từ bên ngoài cơ thể (xạ trị ngoài), các máy xạ trị trong đưa nguồn phóng xạ vào sát khối bướu. Bắn tia chính xác hơn, ít tổn hại mô lành lân cận.

Hóa trị: Thuốc đặc trị đi khắp cơ thể tiêu diệt các tế bào ung thư trôi nổi hoặc các ổ di căn. Các thuốc ung thư thật phong phú, hóa trị hiệu quả hơn. Liệu pháp nội tiết điều trị hỗ trợ hiệu quả ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú.

Các liệu pháp nhắm trúng đích nở rộ. Người ta đã bắt được nhiều gien đột biến (oncogen) liên hệ nhiều loại ung thư. Nhắm đúng đích (các oncogen) mà tấn công.

Kết quả điều trị tính bằng tỷ lệ sống còn 5 năm. Đó là tỷ lệ phần trăm của các bệnh nhân sống tối thiểu 5 năm sau khi định bệnh. Trong nhóm này có nhiều bệnh nhân sống hơn 5 năm và nhiều người khỏi bệnh. Ung thư phát hiện sớm nhiều cơ may trị tốt. Ung thu gan nếu phát hiện từ thời kỳ khu trú thì tỷ lệ bệnh nhân sống tối thiểu 5 năm là 25%, nếu bệnh đã lan đến vùng lân cận thì tỷ lệ giảm xuống 10%, di căn xa còn 3%. Ung thư phổi (loại không tế bào nhỏ) phát hiện sớm thì tỷ lệ sống còn là 50%, di căn xa chỉ còn 4%. Ung thư dạ dày biết sớm thì tỷ lệ trên đạt 70 - 40%; nếu đã di căn xa chỉ còn 4%. Ung thư tuyến tiền liệt dễ điều trị tốt nếu phát hiện sớm, tỷ lệ sống lên đến 90-95%, nhưng di căn xa còn 30%. Tương tự, ung thư vú và ung thư cổ tử cung phát hiện sớm cũng có tiên lượng điều trị rất tốt.

Thầy thuốc có kinh nghiệm, tay dao vững vàng, máy xạ trị hiện đại, nhiều thuốc đặc trị hiệu quả, thuốc nhắm trúng đích nở rộ. Phối hợp nhuần nhuyễn các kiểu điều trị hiện đại ngày càng đem đến hiệu quả tốt hơn cho người bệnh. Con người đang vẽ ra bức tranh phòng chống ung thư với nhiều gam màu tươi sáng hơn.

Điều trị viêm gan truyền thống có nhiều nhược điểm

Viêm gan B là căn bệnh do virus viêm gan loại B (HBV) truyền nhiễm vào cơ thể gây ra, tồn tại trong tế bào gan và làm tổn thương gan, dẫn đến chứng viêm gan, hoại tử, gan xơ hóa. Sự nguy hiểm lớn nhất của viêm gan là quá trình chuyển biến “viêm gan – gan xơ hóa – ung thư gan”.

Nước ta có khoảng 20 triệu người có virus viêm gan B, chiếm khoảng 6% thế giới, mỗi năm tỉ lệ phát bệnh vào khoảng 3500000 người, ước tính mỗi năm có khoảng 10000 người chết vì viêm gan B và các bệnh có liên qua, trong đó 30% – 50% là do xơ gan và ung thư gan.

Phương pháp dieu tri viem gan B truyền thống

Điều trị viêm gan B hiện giờ chủ yếu áp dụng điều trị kháng virus, đương nhiên áp dụng cho bệnh nhân men gan cao. Việc điều trị trên lâm sàng không thể thiếu 2 loại: điều trị Interferon và điều trị dùng thuốc.

Sự nguy hiểm lớn nhất của viêm gan B là quá trình diễn tiến “viêm gan – gan xơ hóa – ung thư gan”

Nếu áp dụng phương pháp điều trị viêm gan B bằng Interferon, điều bệnh nhân khó tiếp nhận nhất là chí phí điều trị quá đắt, nếu tính theo lộ trình 1 liệu trình 1 năm thì chi phí cho 1 bệnh nhân viêm gan B mỗi 1 liệu trình vào khoảng 85 triệu.

Thông thường, nếu dùng Interferon điều trị viêm gan B thì cuối cùng hiệu quả điều trị cũng chỉ đạt 30%, trong số những người này, chỉ có 5-10% bệnh nhân có thể chuyển thành công về âm tính, tỉ lệ này là rất thấp.

Nếu lựa chọn điều trị dùng thuốc, so sánh với chi phí Interferon sẽ giảm được ½ nhưng vấn đề của nó lại nằm ở những điều tiếp theo.

Điều trị dùng thuốc là cả 1 quá trình lâu dài, thông thường bệnh nhân cần dùng thuốc 2-3 năm, rất ít bệnh nhân có thể để đạt được kết quả không ngừng thuốc giữa chừng bằng sự kiên trì của bản thân.

Điều trị bằng thuốc không chỉ trải qua điều trị liệu trình lâu dài phục hồi – tái phát mà ngoài ra ngay cả khi có thể hoàn thành trọn vẹn liệu trình dùng thuốc, thì hiện thuốc vẫn chưa thể bảo đảm hoàn toàn hiệu quả điều trị.

Trong quá trình dùng thuốc, vẫn phải tiến hành theo dõi liên tục các chỉ số khác như ALT và AST, nếu như phát hiện chỉ số nào trong đó có sự tái phát, thì phải xác định lại phương án điều trị.

Từ những nhận xét chính xác trên có thể thấy rằng nếu lựa chọn phương pháp điều trị truyền thống đồng nghĩa với chi phí điều trị nếu là ở một gia đình thuần nông bình thường thì sẽ là một gách nặng rất lớn.

Hiện nay Phòng khám 12 Kim Mã đang trên đà phát triển, chúng tôi không ngừng giao lưu học hỏi về kĩ thuật với nước ngoài, hợp tác với các bệnh viện đầu ngành chuyên khoa gan trong và ngoài nước, với những trang thiết bị chẩn đoán và điều trị tân tiến điều trị viêm gan B, gan xơ hóa, gan nhiễm mỡ, bệnh gan do rượu, viêm gan do thuốc, xơ gan cổ trướng, ung thư gan, đạt được nhiều thành tựu.

Phương pháp ghép gan qua góc nhìn chuyên gia Singapore

Tối đa khoảng 75% bệnh nhân được chữa khỏi bệnh ung thư gan giai đoạn đầu nhờ ghép gan. Đây cũng là giải pháp mang lại sự sống cho những bệnh nhân bị suy gan cấp tính do dùng thuốc.

Dưới đây là các chia sẻ của bác sỹ tới từ Bệnh viện Gleneagles, Singapore về ca phẫu thuật mang tính chất sống còn này.

Lá gan mới - Cuộc sống mới

Theo BS.Tan Yu-Meng, chuyên gia ghép gan và phẫu thuật gan mật tụy, các nguyên nhân chủ yếu cần phải ghép gan khi lá gan tổn thương nghiêm trọng là:



- Xơ gan, nghĩa là lá gan bị hỏng hay sẹo, thường gây ra do viêm gan B hay C mãn tính, sử dụng đồ uống có cồn trong thời gian dài, gan nhiễm mỡ nặng hoặc do các bệnh tự miễn.

- Ung thu gan, nguyên nhân gây ra có thể bởi tất cả các yếu tố trên, bệnh tiểu đường, hút thuốc, béo phì, và phơi nhiễm với các hóa chất độc hại như aflatoxins.

Ở trẻ em, nguyên nhân chủ yếu của ghép gan là do hẹp ống dẫn mật, nghĩa là ống mật của gan bị teo, tắc nghẽn hoặc tổn thương. Điều này làm cho dịch mật ứ đọng trong gan, dẫn tới tổn thương gan và xơ gan.

Ghép gan giúp tăng khả năng chữa ung thư gan và làm giảm nguy cơ tái phát vì “yếu tố nguy cơ” chủ yếu đã được loại bỏ. Tối đa khoảng 75% bệnh nhân được chữa khỏi bệnh ung thư nhờ phương pháp này. Đây cũng là giải pháp mang lại sự sống cho những bệnh nhân bị suy gan cấp tính do dùng thuốc.

Các phương pháp ghép gan

Có hai phương pháp ghép gan: Ghép gan từ người hiến chết não (Deceased Donor Liver Transplantation - DDLT), nghĩa là cắt bỏ toàn bộ lá gan của người hiến chết não và được dùng để thay thế phần gan bị bệnh của người nhận; và ghép gan từ người hiến sống (Living Donor Liver Transplantation - LDLT).

Ghép gan từ người hiến sống nghĩa là người hiến sống sẽ hiến 50-70% lá gan của mình cho bệnh nhân. Qua ca phẫu thuật cắt bỏ gan được thực hiện một cách cẩn thận, phần được hiến sẽ được dùng để thay thế phần gan bị bệnh. Thủ thuật này có thể thực hiện được bởi vì lá gan (của cả người hiến và người nhận) đều có thể tự tái sinh tới thể tích và kích thước bình thường trong một khoảng thời gian ngắn là sáu tháng.

Trong phương pháp ghép gan từ người hiến sống, người hiến khỏe mạnh được chọn sẽ cần đảm bảo các chỉ số phù hợp với người nhận.

Theo BS. Tan Yu-Meng, ca phẫu thuật sẽ cần có hai đội ngũ bác sỹ phẫu thuật thực hiện đồng thời thủ thuật trên cả người hiến lẫn người nhận. Điều này đòi hỏi các kỹ thuật cao hơn so với ca ghép gan từ người hiến chết não, và chỉ có thể được thực hiện tại các trung tâm y tế chuyên biệt. Ghép gan từ người hiến sống phổ biến hơn ghép gan từ người chết não do số lượng gan của người hiến chết não là hạn chế.

Mặc dù ca phẫu thuật cho người hiến là an toàn và thường không cần phải truyền máu nhưng vẫn có những nguy cơ biến chứng (tối đa khoảng 15%) và tử vong (tối đa khoảng 0.05%) trong tổng số những người hiến tiềm năng.

Những lợi ích của ghép gan

Hầu hết người hiến gan đều có thể trở lại sinh hoạt bình thường trong vòng 3 tháng, và rất nhiều người trong số họ cảm thấy đó là một trải nghiệm đáng nhớ và có ích trong cuộc đời.

BS. Tan Yu-Meng chia sẻ rằng tỉ lệ thành công của người nhận cao hơn 90%, và kết quả của cả hai phương pháp Ghép gan này đều tương tự như nhau. Sau ca phẫu thuật ghép gan, người nhận cần uống thuốc ức chế miễn dịch suốt đời và thường xuyên kiểm tra theo dõi. Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân đều có thể quay trở lại cuộc sống bình thường trong vòng sáu tháng.

Trước ca phẫu thuật ghép gan

Nếu bạn cần phải ghép gan thì việc chăm sóc trước khi ghép là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo bạn có tình trạng sức khỏe tốt nhất và không có yếu tố nào ảnh hưởng tới việc ghép gan.

BS. Vincent Lai, chuyên gia về tiêu hóa, khuyên rằng thường có hai cách kiểm soát phù hợp đối với bệnh gan cơ bản: hoặc loại bỏ nguyên nhân của tổn thương gan, hoặc điều trị bệnh nhằm tránh sự phát triển của bệnh gan. Vẫn có cơ hội để lá gan của bạn có thể hồi phục được đầy đủ chức năng và giữ được sức khỏe mà không cần phải ghép gan.

Ông còn chia sẻ thêm rằng các biến chứng như nhiễm trùng là phổ biến ở những bệnh nhân suy gan. Việc phòng tránh và điều trị nhiễm trùng phù hợp là điều chủ yếu bởi nhiễm trùng xuất hiện có thể dẫn tới tình trạng gan xấu đi và là điều chống chỉ định với ghép gan. Đối với những bệnh nhân ung thư gan đang chờ ghép gan, trong quá trình chờ có người hiến phù hợp thì họ vẫn phải điều trị để kiểm soát sự phát triển của các tế bào ung thư.

Sau khi ghép gan

Việc chăm sóc sau ghép sớm sẽ giúp việc hồi phục tốt hơn. Một trong những việc quan trọng sau ghép là việc dùng thuốc ức chế miễn dịch để chống thải ghép, khống chế viêm nhiễm, dinh dưỡng, nhận biết và kiểm soát sớm các dấu hiệu của biến chứng sau ca ghép gan.

Sau khi xuất viện, bạn cần được thăm khám thường xuyên để theo dõi tình trạng sức khỏe và chức năng của phần gan đã được ghép. Khoảng thời gian giữa mỗi lần thăm khám sẽ giãn ra theo thời gian.

Việc theo dõi dài kỳ là cần thiết để điều chỉnh thuốc ức chế miễn dịch, và cũng để kiểm soát các vấn đề về sức khỏe liên quan như tiểu đường, cholesterol cao, cao huyết áp và béo phì. Theo BS. Vincent Lai, tỷ lệ sống sau 5 năm là trên 80% ở các bệnh nhân ghép gan.

Xem thêm: triệu chứng ung thư gan

Dạo lạnh điều trị hiệu quả một số loại khối u

Kĩ thuật điều trị xâm nhập tối thiểu trúng đích khối u - Dao lạnh là phương pháp duy nhất trên thế giới với hệ thống y tế công nghệ cao điều trị ở nhiệt độ thấp âm 160 độ C và can thiệp nhiệt 20 độ để đảo ngược và nâng cao miễn dịch. Bởi hiệu quả sẽ cao hơn, tế bào ung thư bị tiêu diệt nhiều hơn so với việc chỉ dùng đơn thuần nhiệt hoặc áp lạnh để điều trị.

Cùng với sự phát triển điều trị ung thư của thế giới, kĩ thuật này thuộc điều trị vật lý, hiệu quả trong việc tiêu diệt khối u triệt để (95% trở lên), điều trị không dẫn đến sự gia tăng của các tế bào ung thư, quá trình điều trị xâm nhập tối thiểu không đau đớn, hồi phục nhanh, không gây tổn hại các mô bình thường, và khác với xạ hoá trị, điều trị dao lạnh không có tác dụng phụ, sau khi điều trị, chức năng miễn dịch của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt, nâng cao tỷ lệ sống, ngoài ra chi phí điều trị thấp, thời gian nằm viện ngắn là những ưu điểm của phương pháp này.

Dao lạnh là kĩ thuật tiên tiến trong điều trị ung thư tiến triển sau các kĩ thuật như: đốt cao tần, viba, laser, dao gamma. Dao lạnh có lợi thế đáng kể trong điều trị ung thư phổi, ung thu gan, ung thư vú, ung thư thận, nó còn là kĩ thuật tiêu biểu trong điều trị ung thư của thế giới.

Trình tự điều trị của kĩ thuật này đã trở thành lựa chọn tốt nhất dành cho bệnh nhân ung thư, nhân được sự khẳng định lâm sàng trong việc điều trị tổng hợp nhằm giúp nâng cao hiệu quả điều trị. Theo số liệu thống kê kết quả lâm sàng cho thấy, điều trị ung thư giai đoạn muộn bằng dao lạnh đạt hiệu quả 96.5% (trong khi điều trị bằng hoá chất chỉ đạt hiệu quả 20-30%).

Kĩ thuật này phù hợp với điều trị ung thư phổi, khối u lành tính tại phổi, ung thư gan, ung thư thận, ung thư tuyến thượng thận, ung thư âm đạo, ung thư tử cung, ung thư cổ tử cung, ung thư buồng trứng, ung thư dương vật, ung thư da, ung thư hắc tố, ung thư máu, ung thư xương, ung thư amidan, ung thư vòm, ung thư mũi, u sợi thần kính, u mỡ, ung thư miệng, ung thư lưỡi, ug thư đầu cổ….
Dao lạnh phù hợp điều trị cho khối u thực thể ở các giao đoạn sớm, giai đoạn giữa và giai đoạn muộn, đặc biệt là dành cho những bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn không còn khả năng phẫu thuật cắt bỏ, hoặc với những bệnh nhân lớn tuổi, do nhiều nguyên nhân không đồng ý phẫu thuật; những bệnh nhân không chịu nổi tác dụng phụ của hoá xạ trị; và cũng là lựa chọn cho bệnh nhân giai đoạn muộn đã di căn.

Với mong muốn giảm bớt đau đớn cho bện nhân, nâng cao hiệu quả điều trị tổng hợp, bệnh viẹn Ung Bướu Hiện Đại Quảng Châu tập trung đội ngũ chuyên gia giỏi về ngoại khoa, gan mật, ung thư, tiết niệu, CT, siêu âm, can thiệp… cùng áp dụng các phương pháp can thiệp, hoá trị, xạ trị, Đông Y kết hợp với dao lạnh đưa ra phác đồ điều trị tổng hợp và thích hợp nhất mang tính đột phá chỉ với vết thương nhỏ 1.47mm, pham vi làm dao lạnh lớn, có thể cùng lúc dùng 15 cây kim, giúp giảm bớt đau đớn, nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân ung thư giai đoạn giữa, muộn.

July 17, 2013

Lưu ý khi sử dụng gừng

ANTĐ - Từ xưa, gừng được biết đến không chỉ như là một trong các loại thực phẩm gia vị, mà nó còn được dùng trong y học dân gian để điều trị hoặc làm giảm các triệu chứng bệnh lý thường gặp. Tuy nhiên, khi sử dụng gừng không đúng cách sẽ gây hại cho sức khỏe. Vì vậy, khi dùng gừng làm thuốc hay để ăn bạn hãy chú ý đến một số điều cần lưu ý sau.

Bệnh dạ dày: Đối với người bị đau dạ dày, viêm loét dạ dày, loét tá tràng sẽ được các bác sĩ khuyên không nên ăn gừng, vì trong thành phần của gừng có những chất chủ yếu hoạt động trên các niêm mạc dạ dày. Từ đó, các niêm mạc bị kích thích, bào mòn và gây ra những vết loét. Ngoài ra, khi đã được chẩn đoán có bất kỳ triệu chứng ung thư ở đường tiêu hóa thì chống chỉ định tuyệt đối không được ăn gừng vì nó sẽ kích thích khối u phát triển rất nhanh. Cũng giống như niêm mạc dạ dày, nếu ăn gừng với số lượng nhiều có thể gây ra những viêm, loét bao phủ hết thành ruột và đại tràng.

Bệnh gan: Người bị bệnh viêm gan cấp và mãn tính, bệnh xơ gan không nên ăn gừng vì nó kích thích sự bài tiết của các tế bào gan, vì những tế bào này sẽ bị hoại tử khi đang trong trạng thái được kích thích. Ngoài ra, người bị sỏi mật cũng được khuyên không nên ăn gừng vì nó sẽ làm cho các viên sỏi bị mắc kẹt trong đó, thậm chí trong nhiều trường hợp cần thiết phải phẫu thuật.

Bệnh trĩ, xuất huyết: Nếu bạn có tiền sử bị rối loạn chảy máu (trong đó có cả chảy máu cam, tử cung…) thì nên hạn chế ăn gừng ở bất kỳ dạng nào bởi nó sẽ làm tăng tình trạng chảy máu. Ngoài ra, bạn không được ăn gừng khi bị đột quỵ, nhồi máu cơ tim, huyết áp cao hay đã có tiền sử đột quỵ, nhồi máu và thiếu máu cục bộ.

Phụ nữ mang thai: Theo kinh nghiệm dân gian, gừng được dùng trong thời gian đầu của thời kỳ mang thai nhằm giảm các triệu chứng buồn nôn, tiết nước bọt và giảm các triệu chứng ngộ độc. Còn trong nửa cuối của thai kỳ nên hạn chế dùng gừng vì nó có thể làm tăng huyết áp gây nguy hiểm cho thai phụ. Và trong thời kỳ cho con bú cũng không nên ăn gừng vì nó có thể được bài tiết vào sữa mẹ gây ra chứng mất ngủ ở trẻ em.
Người thân nhiệt cao: Trong trường hợp này không nên ăn gừng vì nó sẽ làm thân nhiệt tăng cao hơn. Tuy nhiên, nếu bị cúm virus mà không sốt hay sốt nhẹ vẫn có thể dùng gừng, nhưng khi đã có dấu hiệu sốt cao và có nguy cơ tổn thương các mạch máu và xuất huyết thì tuyệt đối không được dùng gừng.

Tương tác của thuốc và gừng: Trong thực tế gừng có thể phù hợp và kết hợp được với nhiều loại thuốc. Nhưng cũng nên cẩn trọng hơn khi dùng thuốc phải có khuyến cáo của bác sĩ. Điều không nên làm là kết hợp gừng với những loại thuốc giảm huyết áp, chống loạn nhịp tim và thuốc kích thích cơ tim. Vì hoạt tính của những loại thuốc này sẽ tăng lên khi có sự kết hợp với gừng và gây ra tình trạng công thuốc, quá liều. Ngoài ra, gừng cũng không được dùng với thuốc hạ đường huyết vì gừng sẽ làm giảm lượng đường trong máu của bạn, điều này đã được quy định riêng cho bệnh tiểu đường.

Theo Đông y, bạn dùng gừng không được gọt vỏ vì như vậy sẽ mất hết dược tính của gừng. Không được ăn gừng tươi đã bị dập hay mọc mầm vì gừng ở dạng này dễ sinh ra một loại độc tố cực mạnh, thay đổi tính chất của gừng dẫn tới hoại tử tế bào gan gây ung thư gan và thực quản. Hơn nữa, thời gian buổi tối cũng không được ăn gừng vì nó có thể ảnh hưởng xấu đến sinh lý và sức khỏe.