August 9, 2013

Thảo dược Trung Quốc - mầm mống gây bệnh ung thư

Chiết xuất thảo dược được sử dụng trong các bài thuốc Trung Hoa chữa bệnh viêm khớp, bệnh gout (gút) và viêm được cho là có mối liên hệ trực tiếp đến mầm mống ung thư.

Dấu hiệu gen của axit aristolochic – có nguồn gốc từ cây nho thuộc họ cây dây leo được tìm thấy trong khối u của 19 bệnh nhân mắc ung thư đường tiết niệu ở Đài Loan.


Các nhà khoa học từ trước đến nay cho rằng axit chính là chất sinh ung thư, nhưng một nghiên cứu gần đây lần đầu tiên chỉ ra nó còn gây ra nhiều đột biến gen hơn là bệnh ung thư phổi do hút thuốc hoặc bệnh ung thư da do nhiễm phóng xạ tia cực tím.

Theo Tạp chí Science Translational Medicine (Mỹ), các khối u ở người phơi nhiễm với thảo dược có khoảng 150 đột biến/megabase, trong khi chỉ có 8 đột biến ở các bệnh ung thư phổi do hút thuốc và 111 đột biến ở khối u ác tính do nhiễm tia cực tím. Hiểu rõ hơn về dấu hiệu axit sẽ giúp các nhà nghiên cứu phát hiện sự liên quan của các thảo dược với bệnh ung thư nội tạng.

Giáo sư Kenneth Kinzler , khoa ung thư học của Trung tâm ung thư Johns Hopkins Kimmel thuộc Trung tâm Di truyền học ung thư và Điều trị Ludwig cho biết “Giải trình tự gen cho phép chúng tôi hạn chế sự phơi nhiễm của axit aristolochic trực tiếp với bệnh nhân mắc bệnh ung thư”.

“Công nghệ hiện đại đã cho chúng tôi nhận biết các dấu hiệu đột biến rõ nét để khẳng định một độc tố nhất định nào đó gây ra bệnh ung thư”.

Sự liên hệ giữa ung thư và các loại thảo dược dẫn đến lệnh cấm các sản phẩm có chứa axit aristolochic tại châu Âu và Bắc Mỹ vào năm 2001, sau đó ở châu Á năm 2003.

Nguồn: Internet

Xem thêm: chua benh ung thu

Thuốc có thể làm thay đổi chức năng gan gây tổn thương gan

Thuốc có thể làm thay đổi chức năng gan, tổn thương gan, biểu hiện bằng các triệu chứng lâm sàng, dẫn đến tàn phế, đe dọa tính mạng.

Mỗi loại thuốc gây ra một kiểu tổn thương gan, mật nhất định.

Việc gây hại cho gan của thuốc còn phụ thuộc vào loại thuốc, khả năng tự hồi phục gan của người bệnh. Mặc dù tỷ lệ này nhỏ nhưng không thể xem thường...Mặc dù tăng nồng độ men gan aminotransferase là dấu hiệu phản ánh tổn thương gan nhưng đây không phải là căn cứ “dự báo” hay “chỉ điểm” độc tính trầm trọng. Bởi vì gan có khả năng thích ứng, hồi phục. Ví dụ, lần đầu dùng thuốc chống lao isoniazid thấy tăng aminotransferase, nhưng những lần sau có khi không lặp lại. Trên súc vật, statin làm tăng aminotransferase gây tổn thương gan nặng, nhưng trên người hiếm khi gây độc gan đáng kể trên lâm sàng. Trong khi đó, các triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, khó chịu ở hạ sườn phải, nước tiểu sậm màu... lại là những bằng chứng đầu tiên của độc tính gan. Thiếu sót phổ biến là có lúc “cảnh giác quá mức” khi thấy sự tăng aminotransferase (do phòng xét nghiệm cung cấp) nhưng lại quên dặn người bệnh báo cáo ngay những bằng chứng đầu tiên của độc tính gan để xử lí. Tất nhiên, cũng có trường hợp cả hai điều này xảy ra cùng lúc nhưng dẫu sao thì người bệnh vẫn có điều kiện quan sát các triệu chứng lâm sàng ban đầu hơn và việc căn dặn người bệnh là cần thiết.

Xác định tổn thương gan do thuốc cần xét nghiệm, quan sát lâm sàng, xem xét các điều kiện liên quan. Do vậy, không phải tuyến nào cũng làm được.

Thuốc nào gây tổn thương gan?

Mỗi thuốc gây ra một kiểu tổn thương gan nhất định. Dựa vào đó, người ta phân loại ra từng nhóm cho dễ nhận biết. Dưới đây là các nhóm thuốc gây độc cho gan thường gặp:

Nhóm gây tổn thương tế bào gan (tăng alanin aminotranferase): bao gồm các thuốc kháng khuẩn, nấm (ketoconazol, tetracyclin, trovafloxacin), chống lao (isoniazid, rifampicin, pyrazinamid), chữa tăng huyết áp (lisinopril, losartan, amiodaron), giảm đau chống viêm (paracetamol, allopuriol, các kháng viêm không steroid), chống tiết acid (omeprazol), trầm cảm (fluoxetin, proxetin, sertralin), chống mỡ máu (statin), thuốc chống béo (bupropion)...

Nhóm thuốc làm tắc mật (tăng alkalinphophatase+tăng bilirubim toàn phần), bao gồm các thuốc kháng khuẩn, nấm (amoxicilin+acid clavulanic, erythromycin, terbinafin), tâm thần (chlopromazin, mirtarazin, trầm cảm ba vòng), chống dị ứng (phenothiazin), tăng huyết áp (irbesartan), chống cục máu đông (chlopidogen), thuốc chứa estrogen (viên tránh thai, estrgoen), steroid đồng hóa...

Nhóm vừa làm tổn thương tế bào gan vừa làm tắc mật (cùng lúc làm tăng alanin aminotranferase và alkalinphophatase), bao gồm các thuốc kháng sinh (clindamycin, bactrim, sulfonamid, nitrofurantoin), chống động kinh (phenobarbital, phenytoin, carbamazepin), chữa tăng huyết áp (catopril, enalapril,verapamil), chống trầm cảm (amitriphtylin, trazodon), chống dị ứng (cyproheptadin), chữa ung thư tuyến tiền liệt (flutamid)...

Việc chia nhóm chỉ là tương đối. Cách gây độc cho gan của từng loại thuốc còn phức tạp hơn nhiều. Có thể bao gồm một hay cùng lúc nhiều cách như phá vỡ màng tế bào, làm tế bào chết, tạo ra các phức mới, gây ra các phản ứng miễn dịch, ức chế chuyển hóa thuốc của tế bào, gián đoạn các bơm vận chuyển dẫn đến tắc mật...

Biểu hiện độc trên gan phụ thuộc rất nhiều yếu tố: người lớn và phụ nữ hay gặp hơn là trẻ em, nam giới. Béo phì, suy dinh dưỡng hay gặp hơn người không có các bệnh này. Người có tính đa hình di truyền (biến đổi di truyền) thường dễ mắc hơn. Uống rượu trong một số trường hợp làm tăng độc tính gan của thuốc. Ví dụ uống rượu làm cạn kiệt nguồn gluthation (một chất làm chuyển hóa paracetamol) nên làm tăng độc tính gan của paracetamol. Nhưng cũng cần phân biệt có trường hợp rượu lại là thủ phạm chính chứ không phải là thuốc.

Khắc phục như thế nào?

Việc tăng men gan chưa hẳn là đã chuyển thành tổn thương gan. Vì vậy, khi mới chỉ enzym gan tăng, không nhất thiết phải ngừng thuốc nhưng cần theo dõi chặt chẽ. Khi có các biểu hiện lâm sàng: vàng da, suy gan cấp, phải ngừng thuốc ngay để tránh các diễn biến nghiêm trọng. Kết hợp cả hai yếu tố là cách tốt nhất để rút ra cách xử lí phù hợp. Đối với một thuốc đã gây độc thì nhất thiết không thử dùng lặp lại. Dùng lặp lại sẽ tổn thương tái phát nặng hơn.

Độc tính tổn thương tế bào gan cấp thường gặp là mệt mỏi, đau bụng, vàng da, đặc biệt, sự kéo dài và kèm theo bệnh não là một biểu hiện rất nặng, cần phải điều trị tại bệnh viện. Một thuốc chỉ gây độc cho gan ở liều xác định (thường cao gấp nhiều lần liều thường dùng và do dùng kéo dài), vì vậy, chỉ dùng thuốc theo liều lượng và thời gian cho phép.

Cần biết rõ rằng việc dự đoán xảy ra cũng như dự đoán thời gian, độ nặng độc tính gan do thuốc trên từng người bệnh rất khó. Nên với những thuốc đã nằm trong danh mục gây độc cho gan, dù dùng với người bình thường cũng phải cảnh giác.

Nguồn: Internet

August 8, 2013

Dễ dàng cô lập được tế bào gốc trong nước tiểu

Các tế bào gốc trong nước tiểu dễ dàng được cô lập và có tiềm năng cho nhiều liệu pháp điều trị.

Liệu có thể thu hoạch các tế bào gốc để điều trị cho một ngày bằng cách chỉ đơn giản đề nghị các bệnh nhân cung cấp một mẫu nước tiểu hay không?

Các nhà nghiên cứu thuộc viện nghiên cứu Trung tâm Y tế Wake Forest Baptist về Y học tái sinh và các đồng nghiệp đã xác định được các tế bào gốc trong nước tiểu, mà các tế bào này có thể trực tiếp trở thành nhiều loại tế bào.

“Các tế bào này có thể thu được thông qua một cách tiếp cận đơn giản, chi phí thấp và không xâm lấn, có thể tránh các phẫu thuật”, Yuanyuan Zhang, tiến sĩ, phó giáo sư về y học tái tạo và là nghiên cứu cấp cao của dự án cho biết.

Được báo cáo trực tuyến trên tạp chí Tế bào gốc (Stem Cells), nhóm nghiên cứu đã điều khiển các tế bào gốc từ nước tiểu thành các tế bào thuộc loại bàng quang, ví dụ như cơ trơn và niệu mạc, là các tế bào lót của bàng quang. Nhưng các tế bào gốc có nguồn gốc từ nước tiểu cũng có thể hình thành nên các tế bào xương, sụn, mỡ, cơ xương, tế bào thần kinh và các tế bào nội mô, loại tế bào vách các mạch máu. Tiềm năng đa dạng của các tế bào này cho thấy khả năng sử dụng chúng trong một loạt các phương pháp điều trị.

“Những tế bào gốc này đại diện cho gần như một nguồn cung cấp vô hạn các tế bào của chính cá thể ấy để điều trị không chỉ các chứng bệnh liên quan đến tiết niệu như bệnh thận, rối loạn tiểu tiện và rối loạn chức năng cương dương, mà còn có thể được sử dụng rất tốt trong các mục đích khác nữa”, Zhang nói. “Cũng có khả năng các tế bào này được sử dụng để tạo ra bàng quang thay thế, các ống tiết niệu và các cơ quan tiết niệu khác”.

Có thể sử dụng chính các tế bào gốc của bệnh nhân để điều trị cho bệnh nhân đó được xem là thuận lợi vì các tế bào này sẽ không gây ra phản ứng miễn dịch hoặc đào thải. Tuy nhiên, vì các tế bào mô đặc trưng là một quần thể rất nhỏ của tế bào, khó có thể phân lập chúng từ các cơ quan và các mô.

Nhóm nghiên cứu của Zhang lần đầu đã xác định được các tế bào là một tập hợp con trong số rất nhiều tế bào có trong nước tiểu, trong năm 2006. Nghiên cứu hiện nay được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đó bằng cách khẳng định lại tiềm năng đa dạng của các tế bào này. Ngoài ra, nghiên cứu nhận thấy, không giống như các tế bào iPS hay các tế bào gốc của phôi, các tế bào gốc có nguồn gốc từ nước tiểu không hình thành nên các khối u khi được cấy ghép trong cơ thể, cho thấy các tế bào này có thể là an toàn để sử dụng cho các bệnh nhân.

Nghiên cứu đã thu thập các mẫu nước tiểu từ 17 người khỏe mạnh trong độ tuổi từ 5 đến 75 tuổi. Cô lập các tế bào từ nước tiểu gồm các xử lý tối thiểu, theo các tác giả cho biết. Tiếp theo, họ đã đánh giá các khả năng trở thành các loại tế bào khác của các tế bào này.

Quan trọng hơn, các tế bào này đã biệt hóa thành các lớp mô 3 tầng (nội bì, trung bì và ngoại bì) là dấu hiệu của các tế bào gốc thật sự và cũng đã biệt hóa thành các loài tế bào cụ thể đã đề cập trước đó.

Sau đó, các nhà nghiên cứu đặt các tế bào đã được biệt hóa thành cơ trơn và các tế bào tiết niệu lên các giá thể làm từ ruột lợn. Khi cấy vào chuột trong một tháng, các tế bào đã tạo thành các cấu trúc nhiều lớp, giống như mô.
Các tế bào gốc có nguồn gốc từ nước tiểu có các dấu hiệu (các marker) của các tế bào trung mô, đây là những tế bào gốc trưởng thành từ các mô liên kết, chẳng hạn như tủy xương. Chúng cũng có các dấu hiệu của tế bào mầm (pericyte), một nhóm các tế bào trung mô được tìm thấy trong các mạch máu nhỏ.

Những tế bào này có nguồn gốc từ đâu? Các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng các tế bào này có nguồn gốc từ đường tiết niệu trên, gồm cả thận. Những tình nguyện viên nữ - những người đã nhận cấy ghép thận từ những người hiến tạng là nam giới đã được phát hiện là có nhiễm sắc thể Y trong các tế bào gốc có nguồn gốc từ nước tiểu của họ, cho thấy thận là nguồn gốc của các tế bào đó.

Hợp tác y tế Việt Nam-Nhật Bản để chữa bệnh ung thư

Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI), tổ chức Medical Excellent Japan (MEJ) thuộc METI và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp cùng Bộ Y tế Việt Nam đồng tổ chức buổi hội thảo về “Hợp tác y tế Việt Nam - Nhật Bản” vào ngày 26/8 tại Hà Nội.

Theo nguồn tin của Tập đoàn truyền thông Nikkei, sự kiện trên diễn ra trong khuôn khổ kỷ niệm 40 năm quan hệ hợp tác, hữu nghị Việt Nam-Nhật Bản và ASEAN-Nhật Bản.

Buổi hội thảo nhằm tìm kiếm cơ hội hợp tác y tế giữa hai nước trong lĩnh vực chẩn đoán và chua benh ung thu, tiến tới chuyển giao công nghệ và phương pháp điều trị ung thư tiên tiến của Nhật Bản sang Việt Nam.

Diễn giả chính của buổi hội thảo là giáo sư Hidemi Goto, Phó Hiệu trưởng Đại học Nagoya kiêm Chủ tịch Khoa Tiêu hóa và Gan, Đại học Nagoya. Giáo sư Goto hiện là một trong những chuyên gia đầu ngành của Nhật Bản về chẩn đoán và điều trị ung thư tiêu hóa như dạ dày và ruột bằng kỹ thuật nội soi. Ông hiện đang nghiên cứu phương pháp chẩn đoán và điều trị ung thư ruột non bằng kỹ thuật nội soi ruột non hai quả cầu (double-balloon enteroscopy) và viên nang nội soi (capsule endoscope), được cho là các kỹ thuật tiên tiến nhất hiện nay.

Dự kiến, ngoài phần thuyết trình của giáo sư Goto còn có bài tham luận của các chuyên gia y tế khác của Nhật Bản.

Theo Chủ tịch MEJ Shuzo Yamamoto, Việt Nam được biết đến trên thế giới là nước có tăng trưởng ổn định trong 5 năm qua và giống với những xã hội công nghiệp hóa khác, Việt Nam cũng phải đối mặt với những căn bệnh của nhịp sống hiện đại, trong đó có bệnh ung thư.

Ông Yamamoto cho rằng qua hội thảo hợp tác lần này, phía Nhật Bản và MEJ hy vọng sẽ giúp phát triển phương pháp điều trị của Nhật Bản ở Việt Nam và sẵn sàng giới thiệu các công nghệ y tế tiên tiến của Nhật Bản đến người dân Việt Nam cùng các nhà sản xuất thiết bị y tế Nhật Bản.

Chủ tịch MEJ hy vọng hoạt động này có thể đóng góp phần nào cho sự phát triển nền y học ở Việt Nam và mở ra cơ hội giao lưu trong lĩnh vực y tế giữa Việt Nam và Nhật Bản.

Theo nguồn tin của MEJ, đại diện các tập đoàn công nghệ hàng đầu của Nhật Bản trong lĩnh vực y tế như Fujifilm, Hitachi, Konica Minolta, Mitsubishi Electric, Nihon Kohden, Olympus Medical Systems và Toshiba Medical Systems cũng sẽ giới thiệu về những công nghệ y khoa mới nhất được các hãng này phát triển và ứng dụng thực tiễn.

Hoạt động giới thiệu công nghệ y khoa ra nước ngoài của MEJ nằm trong kế hoạch đổi mới y tế 5 năm của Chính phủ Nhật Bản.

Hai định hướng chính đồng thời là ưu tiên hàng đầu trong kế hoạch này là mở rộng các dịch vụ chăm sóc và điều trị y tế của Nhật Bản ra nước ngoài và thu hút bệnh nhân nước ngoài có nhu cầu sử dụng dịch vụ điều trị y tế tiên tiến.

HBV và HCV - Hai sát thủ thầm lặng gây ung thư gan

HBV và HCV là hai sát thủ âm thầm mà tàn độc gây ung thu gan


Hai virút viêm gan B (HBV) và viêm gan C (HCV) rõ là thủ phạm gây ung thư gan. Không ít người thấy khoẻ sơn sởn mà khám sức khoẻ định kỳ phát hiện ung thư gan. Như là trên trời rơi xuống. Khi bác sĩ hỏi mới nhớ lại mình có bị viêm gan B mà điều trị lơ mơ.

Truyền người sang người, hoặc lây qua máu nhiễm, nhiễm qua tiêm chích, quan hệ tình dục, con sinh ra từ mẹ nhiễm. Âm thầm tấn công các tế bào gan, làm ra xơ gan, ung thư gan. HBV (virút DNA) thường gây triệu chứng hơn như cảm cúm và vàng da, hồi phục trong vòng vài tháng.

Một số nhỏ mang HBV mạn tính có nguy cơ cao ung thư gan. HCV (virút RNA) mới được biết gần đây (1989), tên tương tự nhưng khác hẳn HBV, lại cùng sở thích là ưa các tế bào gan, gây viêm, dẫn đến xơ gan, có thể lặn mất không để tác hại. Khoảng ba trong bốn người nhiễm có gan xơ trong vài mươi năm.

Các nguyên nhân khác liên thủ gồm rượu, thuốc lá, aflatoxin. Độc tố aflatoxin, do nấm mốc ở bắp, đậu phộng, lúa gạo và lúa mì, có thể dẫn tới ung thư gan. HBV liên thủ với aflatoxin vùi dập lá gan, gây ung thư gan 60 lần cao hơn HBV riêng lẻ. Bị nhiễm HCV mà uống rượu, xơ gan và ung thư bùng lên như đổ dầu vào lửa.

Đại dịch ung thư gan ở nước ta. Những nơi nào viêm gan mạn do HBV và HCV hoành hành cũng là những nơi có xuất độ ung thư gan cao nhất. Viêm gan mạn gây ra 75 - 85% ung thư gan trên toàn cầu. Nhiễm HBV là đại dịch ở Trung Quốc, ở nước ta và một số nơi khác của châu Á. Phần lớn nhiễm virút từ lúc nhỏ và 8 - 10% dân số trưởng thành bị nhiễm mạn tính.

Ở nước ta, ung thư gan là loại thường gặp nhất. Đàn ông mắc nhiều gấp bội phụ nữ. Phải chăng các đấng mày râu thường nhâm nhi với đủ thứ mồi nhậu thức ăn mốc meo… Phải tránh xa HBV/HCV như tránh xa HIV-AIDS. Tránh nhiễm HBV, HCV. Mừng là có vắcxin ngừa HBV, có thuốc trị viêm gan B tốt. Mới có thuốc trị HCV, chưa có vắcxin. Quan hệ tình dục an toàn. Cảnh giác thức ăn mốc meo. Cẩn thận xăm hình da, chân mày; xỏ tai, xỏ mũi đeo bông.

Xem thêm: điều trị ung thư gan | triệu chứng ung thư gan