May 7, 2013

Sự thật về sừng tê giác chữa bệnh ung thư

Sừng tê giác được cấu tạo chủ yếu từ chất keratin, giống hệt như thành phần trong móng chân, móng tay người và hoàn toàn không chữa được ung thư hay tăng khả năng đàn ông như lời đồn.

Hiện nay, nhiều người săn lùng sừng tê giác như một loại thần dược có thể chữa ung thư, tăng khả năng đàn ông, giải độc, giải rượu. Nhưng liệu sừng tê giác có thực sự là thần dược chua benh ung thu hay không?



Lý giải về việc này Bác sĩ Lưu Văn Minh Trưởng khoa xạ 2 Bệnh viện Ung bướu TP.HCM cho biết: Sừng tê giác hoàn toàn không có giá trị chữa bất cứ bệnh ung thư nào. Đây là những lời đồn đoán không có cơ sở khoa học, trái lại việc sử dụng sừng tê giác đã đánh mất khá nhiều thời gian để các bác sĩ có thể trị khỏi cho người bệnh; chưa kể là sự hao tốn về tiền bạc vì sừng tê giác có giá rất đắt.

Còn Tiến sĩ Naomi Doak, Điều phối viên Chương trình TRAFFIC Tiểu vùng Mekong mở rộng chia sẻ. “Sừng tê giác được cấu tạo chủ yếu từ chất keratin và hoàn toàn không có tác dụng chữa ung thư hay tăng cường khả năng tình dục.

Nhiều loại thuốc đông y đã được chứng minh có thể chữa trị hiệu quả một số bệnh khác nhau và cứu sống hàng triệu sinh mạng. Nhưng sừng tê giác không phải một trong các loại thuốc đó. Những lời đồn thổi, những lời nói dối vẫn lan rộng và nó đang châm ngòi cho nhu cầu và việc sử dụng sừng tê giác.”

Tê giác là loài động vật quí hiếm được pháp luật bảo vệ và việc buôn bán sừng tê giác và các sản phẩm từ sừng tê giác là bất hợp pháp, nhưng nó vẫn được nhắc đến và sử dụng như một vị thuốc đông y trong một số tài liệu Y học cổ truyền Việt Nam. Mặc dù từ nhiều năm nay, nó đã không được đề cập đến trong Dược điển Việt Nam.

Hiện nay, tại Châu Á, trong đó có Việt Nam sừng tê giác được coi là thần dược, mặc dù không có đủ bằng chứng khoa học về tác dụng chữa bệnh của nó”. bà Nguyễn Thúy Quỳnh, Trưởng phòng Truyền thông, Qũy bảo vệ thiên nhiên Quốc tế-Việt Nam chia sẻ.

Nạn buôn bán các loài hoang dã đã đẩy nhiều quần thể hoang dã đến nguy cơ tuyệt chủng và đã trở thành mối quan tâm của toàn thế giới. Số vụ săn bắt trộm tê giác châu Phi đã tăng từ 13 trong năm 2007 lên 668 trong năm 2012.

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2013, hơn 200 cá thể tê giác đã bị giết tại Nam Phi, trong khi đó nhiều quốc gia Châu Phi và châu Á khác cũng đang phải đối mặt với nạn săn trộm tê giác ngày càng gia tăng.


Chế độ ăn uống cho người mắc bệnh ung thư

chua benh ung thu gây ra tác động bất lợi nhiều hơn đến vấn đề dinh dưỡng cho cơ thể người bệnh. Do đó, chế độ dinh dưỡng có vai trò rất lớn để góp phần giảm thiểu được những tác dụng bất lợi do tiến trình điều trị.


Quá trình điều trị ung thư khiến người bệnh chán ăn, hoặc do người bệnh ăn quá ít đạm, quá ít năng lượng khiến cơ thể mệt mỏi, không đủ sức đề kháng chống lại nhiễm trùng cũng như không chịu nổi liệu pháp điều trị ung thư.

Khi có chế độ dinh dưỡng hợp lý và đầy đủ chất, những bất lợi trên sẽ được giảm thêm. Tuy nhiên, nhu cầu dinh dưỡng ở mỗi người bệnh khác nhau, hơn nữa khẩu vị của từng người cũng khác nhau nên chế độ ăn không thể giống nhau.

Với người chứng biếng ăn: để có thể giúp người bệnh giảm bớt chán ăn, ngoài việc đảm bảo chế độ ăn giàu năng lượng, giàu đạm, bơ, sữa bột, mật ong, cần chia nhỏ nhiều bữa trong ngày thay vì chỉ ăn 3 bữa. Luôn có sẵn những thức ăn, thực phẩm hợp khẩu vị người bệnh có thể ăn ngay khi cảm thấy muốn ăn. Đảm bảo đầy đủ nước uống như canh, sữa, nước ép trái cây, thức xay nhuyễn... Cần tạo hương vị thơm ngon hấp dẫn trong thực phẩm để kích thích sự thèm ăn.

Với chứng đắng miệng: điều này có thể xảy ra trong suốt thời gian bệnh và điều trị, nó làm cho người bệnh có cảm giác đắng hoặc có mùi tanh, nhất là với các loại thịt hoặc những thực phẩm có hàm lượng đạm cao. Tuy nhiên đắng miệng thường chỉ xảy ra ở giai đoạn điều trị và nó sẽ biến mất sau khi chấm dứt điều trị.

Để giảm thiểu được tình trạng đắng miệng trong giai đoạn điều trị, người bệnh cần súc miệng với nước sạch trước khi ăn, có thể ăn những loại trái cây vị chua như: cam, quít, bưởi... để kích thích vị giác, loại bỏ vị đắng của miệng. Người bệnh chia nhiều bữa ăn trong ngày, chọn thức ăn khoái khẩu, nếu bị tanh vì thịt thì có thể dùng đạm thực vật như đậu hũ chẳng hạn.

Với chứng khô miệng: người bệnh đang trị liệu bằng hóa trị liệu hoặc xạ trị liệu ở vùng đầu, cổ… Thường bị giảm tiết nước bọt từ đó dẫn đến khô miệng và người bệnh rất khó chịu. Khi đó, người bệnh rất khó nhai và khó nuốt thức ăn… Vì thế, cần xay nhuyễn hoặc chế biến thành thức ăn dạng lỏng như nước súp, nước thịt... uống nhiều nước theo từng ngụm để giúp nuốt dễ dàng hơn, có thể sử dụng một số thức ăn đồ uống có vị chua nhưng không nên áp dụng đối với người bệnh có vết thương ở vùng hầu họng nhằm giúp tăng tiết nước bọt; súc miệng tối thiểu 4 lần/ngày. Tránh các thức ăn đồ uống có chứa nhiều chất ngọt, tránh súc miệng bằng những dung dịch có chứa cồn.

Với chứng buồn nôn và nôn: đây là biểu hiện làm cho người bệnh rất sợ nên không dám ăn vì sợ mỗi lần ăn vào lại khó chịu do buồn nôn hay nôn. Để giúp người bệnh thực hiện tốt việc ăn uống và đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng trong quá trình điều trị cần tránh những thức ăn dầu mỡ, cay nồng, nặng mùi, tránh ăn uống những thức ăn nặng mùi trong phòng kín. Tránh uống nước trong khi ăn, chia bữa ăn chính thành nhiều bữa ăn nhỏ trong ngày. Nên ăn trước khi đói vì cơn đói làm tăng cảm giác buồn nôn mạnh hơn. Nên ngồi hoặc nằm tư thế nửa nằm nửa ngồi sau khi ăn khoảng 1 tiếng.

Với chứng táo bón: đây là một vấn đề rất thường thấy ở bệnh nhân ung thư và nhất là ở người bệnh đang trong quá trình điều trị. Gọi là táo bón khi 1 tuần người bệnh đi đại tiện ít hơn 3 lần, phân rất khô và cứng. Táo bón ở người bệnh ung thư có thể là do thiếu nước hoặc thiếu nhiều chất xơ trong chế độ ăn, thiếu hoạt động thể lực, những tác động bởi liệu pháp điều trị. Để giúp người bệnh có thể giúp ngăn ngừa táo bón, cần ăn chế độ ăn nhiều chất xơ và uống nhiều nước, mỗi ngày uống khoảng 1 - 2 lít nước, ngoài ra cần uống thêm nước ép các loại rau, củ, quả, nước chanh, trà… và nên vận động thường xuyên.


May 6, 2013

Hy vọng mới cho bệnh nhân ung thư gan hiện nay

Xét trên toàn thế giới, thì Ung thư gan hiện nay là loại ung thư có tỷ lệ phát bệnh và tử vong cao nhất trong tất cả các loại ung thư; có thể được coi là “vua ung thư”.

Đối với ung thư gan thời kỳ đầu, điều trị bằng phẫu thuật mang lại hiệu quả tương đối tốt. Nhưng đa số bệnh nhân khi phát hiện bệnh đều ở thời kỳ muộn, những phương pháp điều trị không mang lại hiệu quả cao. Hiện nay phương pháp điều trị sinh vật định vị mang đến cho bệnh nhân ung thư gan niềm hy vọng mới.

Phương pháp điều trị sinh vật định vị được thiết lập trên cơ sở miễn dịch học hiện đại và cơ sở sinh vật phân tử học, sử dụng phân tử, gen và những loại thuốc từ thiên nhiên, thông qua điều tiết miễn dịch sẵn có trong cơ thể để đạt đến mục đích điều trị và dự phòng ung thư. Đây là một phương pháp điều trị hoàn toàn mới.

Từ khi xuất hiện, điều trị sinh vật định vị đã phát triển nhanh chóng, trở thành một phương pháp điều trị khác biệt với phương pháp truyền thống, đầy hy vọng trong điều trị ung thư.

Hiện nay, điều trị ung thư gan bằng phương pháp sinh vật định vị bao gồm điều trị gen, điều trị miễn dịch, điều trị định vị.

1. Điều trị gen trong ung thư gan diễn ra và phát triển liên quan đến hoạt động gen của tế bào ung thư và sự mất khả năng của gen kháng ung thư. Khi gen ung thư kích hoạt làm mất khả năng của gen kháng ung thư thì bệnh ung thư sẽ xảy ra. Điều trị gen thông qua phương cách đặc thù, mang tác dụng của gen điều trị truyền vào cơ thể, để đạt đến mục đích điều trị ung thư gan. Trước mắt trong điều trị lâm sàng là thông qua phương pháp thâm nhập huyết quản đưa gen P53 vào cơ thể.

2. Điều trị miễn dịch là sử dụng chức năng miễn dịch trong cơ thể để tiêu diệt tế bào ung thư, khi tế bào miễn dịch trong cơ thể thấp thì tế bào ung thư sẽ sinh sôi. Thông qua điều tiết và tăng cường sức miễn dịch trong cơ thể, để đạt đến khống chế hoặc tiêu diệt tế bào ung thư gan, đây được gọi là phương pháp điều trị miễn dịch. Thông qua việc lấy máu trực tiếp từ cơ thể bệnh nhân, phân tích ra tế bào miễn dịch, sau đó tăng sinh tế bào miễn dịch ngoài cơ thể, truyền lại vào cơ thể bệnh nhân để đạt đến mục đích điều trị.

3. Phương pháp điều trị nhằm trúng đích tế bào ung thư gan sinh trưởng bị ảnh hưởng của nhiều nguyên tử tế bào khống chế, tìm đến những nguyên tử tế bào liên quan, tiến hành định vị điều trị, có hiệu quả đối với những tế bào ung thư gan, nhưng lại không ảnh hưởng lớn đến những tế bào tổ chức bình thường khác.

Phương pháp điều trị này chỉ có hiệu quả đối với mục tiêu đã định, nên được gọi là phương pháp điều trị nhắm trúng đích. Hiện nay có những loại thuốc điều trị nhắm trúng đích như Sorafeni, Erlotinib…

Sự phát triển không ngừng của y học ngày nay, phương pháp điều trị sinh vật định vị đã không ngừng cải tiến, ngày càng có nhiều ứng dụng lâm sàng cho bệnh nhân ung thư gan, đem đến hiệu quả điều trị tốt. Hiện nay ung thư gan đã không còn đáng sợ nữa.

Tham khảo thêm: thuoc tri benh gan | chua benh ung thu | thuoc dieu tri ung thu gan

Bệnh nhân ung thư gan có thể kéo dài sự sống từ 18 tháng - 5 năm

Phương pháp mới trong điều trị ung thư gan

Với phương pháp phẫu thuật, người bệnh ung thư gan nguyên phát thường chỉ sống thêm nhiều nhất là 3 tháng. Nhưng với kỹ thuật nút hóa chất động mạch gan, thời gian sống của bệnh nhân kéo dài từ 18 tháng - 5 năm.



Qua nghiên cứu 167 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan được nút hóa chất động mạch gan tại BV Bạch Mai cho kết quả thời gian sống thấp nhất trên 12 tháng, trung bình là 18 tháng, đặc biệt có trường hợp sống thêm được hơn 5 năm.

Trước đó, để điều trị ung thư gan, phương pháp phẫu thuật được sử dụng nhiều nhất nhưng mang lại hiệu quả không cao, thời gian sống thêm chỉ khoảng hơn 9 tháng, vì có đến 80% trường hợp được chẩn đoán ung thư gan khi đã xuất hiện nhiều u (hoặc u quá lớn), u xâm lấn các tổ chức khác...

Còn với kỹ thuật nút hoá chất động mạch gan, ưu điểm nổi bật phải kể đến là không chảy máu, tránh được vết mổ, điều trị trực tiếp trên khối u (bơm hoá chất và làm tắc mạch nuôi khối u), các hoá chất huỷ diệt khối ung thư không tổn thương đến nhu mô lành lân cận, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân trung bình từ 1 – 5 năm. .

Tuy nhiên, phương pháp nút hóa chất động mạch gan không thể áp dụng đại trà cho tất cả các thể ung thư gan. Phương pháp này rất phù hợp với những bệnh nhân có khối u gan nguyên phát tương đối lớn, nằm gần các mạch lớn không thể cắt bỏ. Với những khối u có kích thước 10cm trở lại, chưa xâm lấn vào tĩnh mạch cửa gây huyết khối (lòng mạch đặc kết lại, mạch máu không còn lưu thông) thì nút mạch sẽ cho hiệu quả thấy rõ.

Nút hoá chất động mạch gan chống chỉ định với những bệnh nhân suy kiệt sức khoẻ, các chỉ số hoá sinh không cho phép, ung thư gan đã lan thành nhiều khối, di căn sang nơi khác, hay các loại ung thư di căn từ nơi khác đến gan (ví dụ ung thư tụy)...

Người bệnh bị vàng da do tắc mật, có các bệnh khác phối hợp như suy thận, suy tim, có tiền sử dị ứng cũng không phù hợp. Những bệnh nhân có thể trạng yếu cần phải được điều trị nội khoa tích cực cho đến khi ổn định mới có thể nút mạch.

So với các phương pháp điều trị ung thư gan khác, nút hoá chất động mạch gan với chi phí không nhiều, khoảng 3 triệu đồng/ một lần nút hóa chất. Số đợt nút mạch phụ thuộc sự đáp ứng với điều trị.

Xem thêm: điều trị viêm gan | thuoc tri benh gan | bệnh truyền nhiễm

May 4, 2013

Ung thư gan - đừng quá bi quan

Ung thư gan là ung thư thường gặp, diễn tiến tới tử vong nhanh, trung bình chỉ từ 1 đến 6 tháng sau khi phát hiện nếu không được điều trị. Ung thư gan là căn bệnh đáng sợ vì diễn tiến rất thầm lặng, đa số giai đoạn đầu thường không có triệu chứng gì nên không được chẩn đoán và điều trị, khi có biểu hiện rõ thì đã muộn, gây khó khăn cho điều trị.

Dấu hiệu của ung thư gan

Viêm gan siêu vi B, C là nguyên nhân quan trọng nhất gây ung thư gan ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, ung thư gan còn có thể do nghiện rượu, tiếp xúc Alfatoxin (có nhiều trong thực phẩm bị nấm mốc như gạo mốc, các loại đậu mốc), nhiễm sán lá gan, bệnh xơ gan

Các dấu hiệu gợi ý ung thư gan: sụt cân nhiều, nhanh mà không rõ nguyên nhân; sốt kéo dài không rõ nguyên nhân; chán ăn, đầy bụng sau ăn; hạ đường huyết vào buổi sáng, biểu hiện bằng những cơn ngất xỉu và hôn mê; sờ thấy khối u ở hạ sườn phải; đau tức vùng hạ sườn phải; vàng da, vàng mắt, báng bụng, phù chân…

Tuy rằng ung thư gan là bệnh lý có tiên lượng không khả quan lắm nhưng với sự tiến bộ của khoa học ngày nay, bác sĩ vẫn có thể lựa chọn một hoặc kết hợp nhiều biện pháp điều trị với mục đích: hiệu quả nhất, kéo dài thời gian sống, nâng cao chất lượng sống một cách tốt nhất cho người bệnh. Vì vậy khi được chẩn đoán ung thư gan, bệnh nhân nên tích cực điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ, không nên quá hoang mang lo sợ, ai chỉ gì làm nấy, tự ý điều trị lung tung để rồi tiền mất tật mang. Và cũng không nên quá bi quan, phó thác cho số phận, không chịu hợp tác điều trị.

Các phương pháp điều trị ung thư gan mới

Mặc dù ung thư gan là bệnh nặng nhưng với sự tiến bộ của khoa học, hiện nay có rất nhiều phương pháp chọn lựa điều trị, tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, vị trí khối u, chức năng gan, tổng trạng, có di căn hay chưa.

Ghép gan là phương pháp điều trị hiệu quả nhưng còn hạn chế ở nước ta vì yêu cầu kỹ thuật cao và đắt tiền. Phẫu thuật cắt bỏ khối u là phương pháp điều trị triệt để nhất hiện nay nếu được chẩn đoán sớm. Tuy nhiên, do đa số trường hợp vì không có biểu hiện rõ hoặc do người bệnh không quan tâm nên khi phát hiện bệnh thì đã muộn, không phẫu thuật được, vì vậy phải áp dụng những phương pháp điều trị khác. TOCE: thuyên tắc mạch máu nuôi khối u và bơm vào khối u thuốc tiêu diệt tế bào ung thư nhằm hạn chế sự phát triển của khối u, góp phần hủy diệt khối u cũng là một phương pháp điều trị cho kết quả khá tốt. Ngoài ra cũng có thể áp dụng nhiều phương pháp khác như: đốt khối u bằng sóng cao tần, sóng viba, bơm cồn tuyệt đối để hủy diệt khối u, bơm hóa chất vào khối u, điều trị nội khoa…

Hiện nay dieu tri ung thu gan không chỉ áp dụng một biện pháp mà có thể phối hợp nhiều phương pháp khác nhau, mang lại kết quả khá tốt.