September 4, 2013

Cơ hội điều trị viêm gan virus c

Bệnh nhân viêm gan virus C mãn tính có cơ hội khỏi bệnh

Đó là khẳng định của các chuyên gia tại Hội thảo khoa học với chủ đề “Điều trị tối ưu viêm gan virus C mạn tính trên bệnh nhân Việt Nam” tổ chức tại Hà Nội.

Các chuyên gia gan mật trong nước và quốc tế đã thảo luận về những khó khăn trong điều trị viêm gan siêu vi C mạn tính tại Việt Nam, đồng thời, chia sẻ kinh nghiệm chữa bệnh.

Viêm gan virus C mạn tính là 1 trong những nguyên nhân gây xơ gan và ung thư gan, với tỉ lệ tới 4%. Ở Việt Nam, do điều kiện kinh tế, hiểu biết, ý thức chăm sóc về sức khoẻ nên việc tầm soát và điều trị viêm gan virus C mạn tính còn nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, theo ông GS. H.L.Y. Chan Giám đốc Viện tiêu hóa và Trung tâm gan (Hồng Kông): Nếu được chẩn đoán xác định kiểu gen, đo độ xơ hóa của gan để lựa chọn phác đồ điều trị thích hợp, thì bệnh nhân vẫn có nhiều cơ hội khỏi bệnh.

Theo các chuyên gia, phác đồ điều trị hai thuốc (PEG-IFN 2a và Ribavarin) vẫn phù hợp cho bệnh nhân ở các nước châu Á và Việt Nam. Đặc biệt, bệnh nhân châu Á đa phần mang gen IL28cc, nên sẽ đáp ứng cao với PEG-IFN 2a/Ribavirin, tỷ lệ đạt SVR từ 79-85%, ngay cả với bệnh nhân VGSVC genotype 1”.

Sốc vì giá thuốc gây ung thư

Ở Ireland, thuốc chua benh ung thu vú có giá hơn 2 tỉ VNĐ/18 tháng, thuốc điều trị ung thư phổi cho người lớn cũng tương đương 1,4 tỷ đồng trong hơn 7 tháng.

Hai loại thuốc chua benh ung thu vú được gọi là Perjeta do Roche sản xuất và thuốc ung thư phổi được gọi là Xalkori của hãng dược phẩm Pfizer được đánh giá là có giá cả quá đắt.

Sở Điều hành Y tế Ireland (HSE) đã được đề nghị ngừng tài trợ cho việc sử dụng của hai loại thuốc ung thư mới do chi phí quá đắt.

Đề nghị này được đưa ra bởi Trung tâm chuyên khảo sát giá thuốc quốc gia Ireland (NCPE) đối với hai loại thuốc điều trị ung thư vú được gọi là Perjeta do Roche sản xuất và thuốc ung thư phổi được gọi là Xalkori của hãng dược phẩm Pfizer.

Đánh giá của NCPE cho hay, thuốc Perjeta làm tăng đáng kể tỷ lệ sống sót trung bình cho bệnh nhân ung thư vú nhưng con số chính xác vẫn chưa chắc chắn ở thời điểm hiện tại. Loại thuốc này được sử dụng cho phụ nữ bị ung thư vú di căn hoặc tái phát tại địa phương, những người đã không được điều trị triệt để hoặc hóa trị trước đó.

Theo NCPE, chi phí của thuốc Perjeta lên tới 74.000 euro (tương đương hơn 2 tỷ đồng) cho mỗi bệnh nhân để điều trị trung bình 18 tháng. Chi phí này quá đắt đỏ đối với bệnh nhân và việc giảm giá thực sự là rất cần thiết.

Trong trường hợp của thuốc Xalkori - thuốc điều trị ung thư phổi cho người lớn, chi phí điều trị cũng lên tới gần 50.000 euro/bệnh nhân (tương đương 1,4 tỷ đồng) trong hơn 7 tháng.

Ở mức giá hiện tại, loại thuốc Xalkori không được đánh giá là phương pháp điều trị quá đắt đỏ để cải thiện tỷ lệ sống của bệnh nhân ung thư.

Trước kiến nghị trên, Bộ Y tế Ireland, HSE và các công ty dược phẩm đã phải ngồi lại với nhau đàm phán và đi đến một thỏa thuận giảm giá đối với một số loại thuốc điều trị ung thư cho bệnh nhân, tiêu biểu là hai loại thuốc trên.


Bạn biết gì về bệnh xơ gan?

Bệnh xơ gan là bệnh mạn tính, tổn thương nặng lan tỏa ở các thùy gan tạo ra mô xơ, cấu trúc các tiểu thùy và mạch máu của gan bị hủy hoại không hồi phục.

Vì sao dẫ đến bệnh xơ gan?

Bệnh xơ gan thường do nhiều yếu tố gây ra như viêm gan virut B, virut B bội nhiễm virut D, virut C; người nghiện rượu: uống nhiều rượu hàng ngày và kéo dài nhiều năm; xơ gan thứ phát do tắc mật không hoàn toàn kéo dài, do sỏi mật, dính hẹp ở ống gan, ống mật chủ, viêm đường mật tái phát; do dùng một số loại thuốc gây tổn thương gan như: oxyphenisatin, clopromazin, INH, rifampycin...; do nhiễm các hóa chất độc hại gan: aflatoxin, dioxin, chất độc thảo mộc hại gan như cây có hạt thuộc họ Senecio và các alcaloit của nó...; do thiếu dinh dưỡng: quá thiếu chất đạm, thiếu vitamin, thiếu các chất hướng mỡ như cholin, lexithin...; do ký sinh trùng như sán máng, sán lá nhỏ...; do bệnh tắc tĩnh mạch gan và xơ gan không rõ nguyên nhân.

Ba thể bệnh khi bị xơ gan

Trên thực tế, bệnh xơ gan có biểu hiện ra 3 thể bệnh là: xơ gan tiềm tàng; xơ gan còn bù tốt và xơ gan tiến triển, mất bù.

Ở thể xơ gan tiềm tàng, mặc dù bệnh nhân có xơ gan nhưng không có triệu chứng gì, việc phát hiện bệnh chỉ là sự tình cờ như phẫu thuật bụng vì một bệnh khác thấy xơ gan; chẩn đoán hình ảnh một bệnh khác nhưng lại phát hiện được hình ảnh xơ gan...

Thể xơ gan còn bù tốt, bệnh nhân thường có các dấu hiệu sau: rối loạn tiêu hóa như ăn không tiêu, đầy bụng, trướng hơi; đau tức nhẹ vùng hạ sườn phải; chảy máu cam không rõ nguyên nhân; nước tiểu thường có màu vàng sẫm; suy giảm tình dục: nam thì liệt dương, nữ thì vô kinh và vô sinh; gan hơi to và chắc, lách to quá bờ sườn; có mao mạch ở lưng và ngực, hay nổi mẩn đỏ ở lòng bàn tay; lông ở nách, ở bộ phận sinh dục thưa thớt; móng tay khô trắng; nam giới: tinh hoàn teo nhẽo, vú to. Xét nghiệm thấy: albumin giảm, gama globulin tăng; men maclagan tăng trên 10 đơn vị; siêu âm thấy gan to, vang âm của nhu mô gan thô, không thuần nhất; soi ổ bụng và sinh thiết thấy tổn thương xơ gan. Thể bệnh này có thời gian ổn định trong nhiều năm, nhưng thường tiến triển nặng dần từng đợt, nhất là khi bị viêm nhiễm làm cho bệnh xơ gan trở thành mất bù hoặc biến chứng nặng.

Thể xơ gan mất bù, bệnh nhân có các triệu chứng: gầy sút nhiều, chân tay khẳng khiu, huyết áp thấp; bị rối loạn tiêu hóa thường xuyên, chán ăn, ăn không tiêu, đại tiện phân lỏng, phân sống; mệt mỏi thường xuyên, ít ngủ, giảm trí nhớ; chảy máu cam, chảy máu chân răng; da mặt xạm; có nhiều đám xuất huyết ở da bàn chân, bàn tay, vai, ngực; phù hai chân; có cổ trướng, tuần hoàn bàng hệ; lách to hơn bình thường, chắc. Xét nghiệm: albumin giảm, gamma globulin tăng cao; bilirubin máu, men transaminaza tăng trong các đợt tiến triển; hồng cầu, bạch cầu. tiểu cầu thường giảm; chụp và soi thấy giãn tĩnh mạch thực quản; siêu âm thấy trên mặt gan có nhiều nốt đậm âm, có hình ảnh giãn tĩnh mạch cửa, giãn tĩnh mạch lách...; nội soi ổ bụng thấy gan to, hoặc teo nhỏ, nhạt màu; trên mặt gan có những u nhỏ đều, hay to nhỏ không đều; lách to, có dịch ổ bụng.
Cần một chế độ chăm sóc và dinh dưỡng hợp lý

Bệnh nhân xơ gan cần chế độ ăn uống, nghỉ ngơi thích hợp: khi bệnh tiến triển có cổ trướng, cần được nghỉ ngơi tuyệt đối. Ăn uống đủ chất, hợp khẩu vị của bệnh nhân, phải đảm bảo đủ calo (2.500 - 3.000 calo/ngày); ăn nhiều đạm (100g/ngày); nhiều vitamin C, vitamin nhóm B; hạn chế ăn mỡ; bệnh nhân chỉ ăn nhạt khi có phù nề. Nếu có dấu hiệu hôn mê gan phải hạn chế lượng đạm trong khẩu phần ăn. Dùng thuốc cải thiện chuyển hóa tế bào gan và các nội tiết tố glucocorticoit; thuốc hỗ trợ chuyển hóa tế bào gan như vitamin C, B12, cyanidanol... Dùng phối hợp thuốc Nam như: nhân trần, actiso, tam thất... Điều trị cổ trướng: dùng thuốc lợi tiểu chống thải kali.
Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh xơ gan nếu để tiến triển đến giai đoạn cuối, gan bị thoái hóa, tổn thương không hồi phục được, vì vậy việc phòng tránh bệnh xơ gan là vấn đề rất quan trọng. Mọi người có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn, loại trừ các nguyên nhân xơ gan như phòng viêm gan virut B và C bằng các biện pháp vệ sinh cá nhân thật tốt; tiêm phòng bệnh viêm gan virut B cho trẻ em và những người lớn chưa bị bệnh; phải làm tốt công tác vô khuẩn và khử khuẩn mỗi khi tiêm truyền, châm cứu; an toàn truyền máu. Sinh hoạt lành mạnh: hạn chế hoặc bỏ hẳn rượu, bia, bỏ hút thuốc lá. Hàng ngày ăn uống đủ chất: đạm, đường, béo, vitamin và khoáng chất. Phòng nhiễm các bệnh giun sán bằng cách thực hiện ăn chín, uống sôi, không ăn cá hay hải sản tái, sống hoặc chưa nấu chín kỹ, không ăn rau sống, không uống nước lã. Khi có bệnh gan mật cần điều trị tích cực.


September 3, 2013

Bụng bự có thể là dấu hiệu của một số bệnh ung thư

Mỗi tuần, khoa nội tiêu hóa Bệnh viện Nguyễn Tri Phương TP.HCM tiếp nhận khoảng mười bệnh nhân đến khám và nhập viện vì chứng bụng bự. ThS.BS Trần Ngọc Lưu Phương, phó khoa, cho biết:

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra hội chứng này. Trong đó có hai nhóm bệnh lý chính là tích mỡ ở bụng hoặc tràn dịch ổ bụng.

Béo phì dạng quả táo

"Việc chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây chứng bụng to ở giai đoạn sớm sẽ giúp việc lên kế hoạch theo dõi và điều trị dễ dàng, hiệu quả điều trị tốt, tránh những biến chứng như suy gan, hôn mê gan, nhiễm trùng dịch ổ bụng, hay dính ruột, nghẹt ruột hoặc suy thận nặng hơn..."

Tích mỡ ở bụng gặp nhiều nhất ở những người béo phì dạng quả táo, gặp ở cả nam và nữ nhưng ở nam giới nhiều hơn. Đây là dạng béo phì có vòng eo bằng hoặc to hơn vòng mông. Đa số những người béo phì dạng này thường ăn nhiều chất béo, chất ngọt, uống bia nhiều nhưng ít vận động. Nếu không điều chỉnh chế độ ăn uống, vận động sẽ bị tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, cao huyết áp, đái tháo đường, gan nhiễm mỡ.

Ngoài những người bị béo phì, những người sử dụng nhiều thuốc có chứa chất corticoide cũng gây ra tình trạng tích tụ mỡ bụng. Hoạt chất corticoide thường có trong các thuốc trị viêm khớp, hen phế quản, thuốc giảm đau, nhất là các loại đông dược không rõ nguồn gốc. Khi uống các loại thuốc này người ta dễ bị tích mỡ bụng khiến vòng bụng to dần trong khi tay chân lại teo nhỏ, da trở nên mỏng, có nhiều vết nứt da và mặt tròn như mặt trăng, ửng đỏ.

Tràn dịch ổ bụng

Bụng chứa nước hay còn gọi tràn dịch ổ bụng là bệnh lý phổ biến nhất gây nên chứng bụng to. Bình thường ổ bụng như một chiếc thùng kín chứa các cơ quan nội tạng như ruột, gan, bao tử, túi mật... Dịch lỏng nếu có chỉ nằm trong lòng ruột, lòng bao tử chứ không nằm trong bụng trừ khi bị thủng ruột, thủng bao tử, vỡ ruột thừa hay chấn thương vỡ gan, vỡ lách... làm máu và các chất dịch lỏng chảy vào trong ổ bụng.

Tuy nhiên, cũng có một số bệnh làm cho dịch lỏng tích lại khá nhiều trong bụng gây nên chứng bụng to, trong khi các cơ quan nội tạng trong bụng hoàn toàn không bị thủng, giập hay vỡ. Bệnh gặp hàng đầu gây tích dịch lỏng trong bụng là bệnh xơ gan. Khi đó, lá gan đã bị chai cứng lại không thải được nước trong cơ thể ra ngoài gây nên bụng to, phù chân, vàng da... Ngoài ra, bệnh viêm cầu thận, suy thận, hội chứng thận hư cũng gây ứ nước trong cơ thể, gây phù cơ thể và làm to vòng bụng. Bệnh lý suy tim cũng gây phù chân và tích nước trong bụng rồi dần dần làm lá gan bị xơ cứng.

Những người bị tràn dịch ổ bụng đều có triệu chứng bụng to kèm theo tiểu ít, phù ở chân, có khi phù ở mặt. Bệnh nhân thường rất mệt mỏi, ăn uống kém và không tăng cân. Một số ít trường hợp vẫn tăng cân là do nước bị giữ lại trong cơ thể nhưng chỉ có bụng to còn cơ thể gầy, teo cơ, tay chân nhỏ, má hóp, người mệt mỏi. Khi bệnh nhân ăn lạt sẽ thấy bớt phù và bụng nhỏ lại.

Giai đoạn đầu bệnh nhân bị tràn dịch ổ bụng không cảm nhận được bụng to ra mà chỉ là những triệu chứng mơ hồ như cảm giác nặng bụng, đầy bụng khó tiêu, no hơi. Để được chẩn đoán sớm bệnh và điều trị kịp thời, người bệnh nên đi khám khi có các triệu chứng như tăng cân hay sụt cân bất thường, ăn uống kém, rối loạn thói quen đi cầu, đầy bụng, căng tức bụng, chán ăn, mau no, tiểu ít, phù chân nhẹ, nhất là khi có biểu hiện vòng bụng to ra.

Lao màng bụng, ung thư...

Ngoài ra, với bệnh lao màng bụng (vi trùng lao thay vì tấn công vào phổi lại quay ra tấn công vào lớp màng bụng làm tràn dịch ổ bụng), người bệnh sẽ có triệu chứng ăn uống kém, sụt cân, đau bụng, bụng to dần và sốt nhẹ về chiều, có thể kèm theo rối loạn tiêu hóa. Trường hợp của chị T.T.A.C., 27 tuổi, ở Q.Bình Thạnh, TP.HCM là một ví dụ. Chị C. đến Bệnh viện Nguyễn Tri Phương khám vì bụng to nhưng lại sụt cân. Gần hai tháng trước chị C. ăn kém, đau bụng, đi tiêu phân lỏng, mệt mỏi. Kết quả siêu âm, nội soi và xét nghiệm dịch ổ bụng xác định chị bị bệnh lao ruột và lao màng bụng. Sau khi được điều trị lao theo đúng phác đồ trong một tháng, chị C. đã khỏe hơn, tăng cân và bụng bắt đầu nhỏ dần lại.

Chứng bụng to cũng thường thấy ở những người mắc bệnh bị ung thư di căn vào màng bụng. Đó là bệnh ung thư dạ dày, ung thư ruột già, ung thư gan, ung thư tử cung, ung thư buồng trứng. Bệnh nhân mắc các bệnh này chỉ có vòng bụng to lên, chứ cơ thể gầy sút, suy nhược, ăn uống kém. Bệnh nhân đi khám bệnh thường kể vì lý do thấy bụng căng to, chứ những triệu chứng của bệnh đã có từ vài tháng trước đó lại bị bỏ qua như đau bụng, tiêu chảy, táo bón, ợ chua, kinh nguyệt không đều...

Ở phụ nữ, còn một nguyên nhân gây bụng to là u nang lành tính buồng trứng loại khổng lồ hay ung thư buồng trứng to lan tràn khắp ổ bụng. Bệnh viện Nguyễn Tri Phương từng gặp một trường hợp bệnh nhân bị nghi ngờ mắc chứng lao màng bụng nhưng chẩn đoán cuối cùng là u nang buồng trứng rất to. Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân hiếm gặp khác cũng gây chứng bụng to như ung thư nguyên phát từ màng bụng, nhiễm ký sinh trùng như giun đũa chó mèo đi lạc chỗ vào màng bụng hay bệnh lupus...


Hy vọng mới chữa bệnh ung thư

Bằng việc triển khai ứng dụng loại thảo dược có tên DMSO kết hợp với điều trị hoá trị, Khoa Ung bướu, Bệnh viện 198 đã mang đến nhiều hy vọng cho bệnh nhân ung thư.

Bệnh nhân ung thư hiện nay được phát hiện tại Việt Nam tới con số đáng báo động. Hầu hết các bệnh ung thư đều có các biện pháp điều trị cơ bản như: phẫu thuật, xạ trị, hoá trị và các biện pháp hỗ trợ khác, tuy nhiên rất ít bệnh nhân được khỏi bệnh hoặc có thể kéo dài tuổi thọ, nói đến ung thư được coi như bản án tử hình, là chấm dứt cuộc sống. Tuy nhiên, gần đây nhất tại Khoa Ung bướu, Bệnh viện 198 (trụ sở tại Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội) đang triển khai ứng dụng loại thảo dược có tên DMSO kết hợp, với điều trị hoá trị đem lại niềm hy vọng cho bệnh nhân ung thư.

Dẫu mới ra đời được 4 năm, nhưng Khoa Ung bướu, Bệnh viện 198 (Bộ Công an) đã tạo được niềm tin ở người bệnh trong việc chua benh ung thu. Hiểu rõ cơ chế gây đau ở bệnh nhân ung thư, Bệnh viện 198 đã đưa phương pháp trị liệu thảo dược kết hợp với y học hiện đại. Cụ thể là triển khai ứng dụng cơ chế miễn dịch và thần kinh trong điều trị chăm sóc triệu chứng và chống đau cho bệnh nhân ung thư. Vì thế, nhiều bệnh nhân bị ung thư dạ dày, phổi, gan… tưởng không qua khỏi nay đã khỏe mạnh.

Theo TS - BS Trần Quốc Hùng, Trưởng khoa Ung bướu, Bệnh viện 198, đây là công trình nghiên cứu trong thời gian hơn 10 năm của TS Hoàng Xuân Ba và nhóm nghiên cứu ở Mỹ và hiện đang được áp dụng tại Bệnh viện 198.

Phương pháp điều trị này là dùng thảo dược và các chất dinh dưỡng để giúp cơ thể tự điều chỉnh lại sự kích thích màng tế bào và chuyển hóa năng lượng. Các chế phẩm này không trực tiếp tiêu diệt khối u mà giúp màng tế bào ổn định, không bị kích thích cũng như điều hòa hoạt động chuyển hóa và tổng hợp năng lượng của tế bào, đào thải gốc oxi hóa tự do, ngăn chặn quá trình dị sản của các tế bào, nhờ đó bệnh nhân có thể sống lâu hơn với chất lượng cuộc sống tốt hơn…

Thực tế, nhiều bệnh nhân sau khi được điều trị, kết quả chiếu chụp và xét nghiệm cho thấy khối u bị tiêu mất hoàn toàn hoặc bị vôi hóa, sẹo hóa. Vì thế, nhiều các trường hợp ung thư các loại, thậm chí, không thể phẫu thuật nhưng nhờ dùng các chế phẩm trên để hỗ trợ đã mổ được, tới nay đã bình phục. Nguyên nhân là do các chế phẩm không có tác dụng phụ, giúp các tế bào ác tính phục hồi chức năng bình thường để trở nên lành tính, không tiếp tục sinh sản và tàn phá cơ thể bệnh nhân.

Cũng theo TS-BS Hùng, Khoa Ung bướu đã tiếp nhận điều trị nhiều bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối nhập viện trong tình trạng đau đớn, suy kiệt, khả năng cứu chữa là rất khó khăn, tuy nhiên sau khi được điều trị theo phương pháp truyền thảo dược DMSO, bệnh nhân đã cải thiện rất rõ, cơn đau giảm hẳn, các viêm nhiễm lở loét được cải thiện rất nhiều, bệnh nhân tăng cân, tinh thần và thể trạng được.

Được biết, hiện nay tại khoa đang có 4 trường hợp điều trị ung thư theo phác đồ mới đang cho thấy hiệu quả rất tốt, đây là tín hiệu rất mừng cho các bệnh nhân đang mắc bệnh ung thư.

TS-BS Hùng cho biết thêm, việc áp dụng phác đồ điều trị này nhằm giúp bệnh nhân chống đỡ tốt hơn với căn bệnh, kìm hãm sự phát triển của khối u. Nhờ đó, giúp giảm đau đớn cho người bệnh, giảm thấp lở loét, các viêm nhiễm và giúp cho tinh thần của bệnh nhân nâng lên. Phương pháp này cho hiệu quả điều trị cao, ít tốn kém và đặc biệt là hầu như không có các tác dụng phụ vì không sử dụng hóa chất, tia xạ. Với mỗi loại ung thư và giai đoạn bệnh khác nhau, chúng tôi sẽ chỉ định điều trị phù hợp, giúp người bệnh dễ chịu, có thể duy trì sinh hoạt thường ngày.

TS-BS Hùng cũng chia sẻ, ung thư gan là loại tổn thương thường gặp nhất trong các loại u gan, nằm trong 6 loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới và cũng nằm trong 3 loại ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam. Hiện nay, Khoa Ung bướu đã đưa kỹ thuật mới, phá huỷ khối u gan bằng vi sóng (Microwave, nút mạch gan), đây là một trong những kỹ thuật đầu tiên được ứng dụng tại khu vực phía Bắc.

Như vậy với những thông tin này, trong thời gian tới những người mắc căn bệnh ung thư một bệnh gọi là “hiểm nghèo” sẽ không còn lo sợ bị ung thư là chấm hết cuộc sống, mà với việc ứng dụng điều trị mới nhất về ung thư tại Bệnh viện 198, sẽ giúp người bệnh sống lâu và sống chất lượng hơn. Đồng thời cũng là góp phần nâng cao chất lượng khám và điều trị cho CBCS Công an cũng như nhân dân trong thời gian tới.